|
Chiêu
Quân
Không thấy
một gạch nối nào giữa hình ảnh người đẹp Chiêu Quân của Hán-quốc
phải gạt lệ sang Hồ, với thời điểm giao mùa năm mới tiễn năm cũ. Vậy
mà tôi cứ bâng khuâng, phảng phất đâu đây tiếng nức nở của giai
nhân:
“Tuyết
lạnh che mờ trời Hán-quốc
Tỳ-bà lanh lảnh buốt cung thương
Tang tình năm ngón, sầu dâng lệ
Chiêu Quân sang Hồ, xừ hồ sang”
(*)
Có lẽ
không gì ảo não cho bằng khi phải xa rời quê hương bất đắc dĩ. Huống
chi, một vương phi được quân vương sùng ái mà chỉ vì quá đẹp nên đã
phải biến thành quà tặng cho vua xứ khác. Có ai phải xa quê, trên
đường biên giới, nhìn về đất mẹ mới cảm thông phần nào nỗi lòng
Chiêu Quân:
“Đây
Nhạn-Môn-Quan đường ải vắng
Trường Thành xa lắm, Hán Vương ơi!
Chiêu Quân che khép mền chiên bạch
Gió bấc trời Phiên thấm lạnh rồi
Ngó lại xanh xanh triều Hán-Đế
Từng hàng châu lệ thấm chiên nhung
Quân Vương chắc cũng say và khóc
Ái Khanh! Ái Khanh! Lời nghẹn ngùng”
(*)
Lòng người
đi sầu muộn như thế. Còn kẻ ở thì sao? Chia lìa nào mà không đứt
đoạn:
“Hồ
xang, hồ xang, xừ hồ xang
Chiêu Quân nàng ơi, lệ dâng hàng
Lã chã trời Phiên mưa tuyết xuống
Chiêu Quân sang Hồ, xừ hồ xang”
(*)
Người yêu
thơ biết đến Quang Dũng ở những bài bất tử như Đôi mắt Người Sơn
Tây, Đôi Bờ, Tây Tiến … nhưng bài Chiêu Quân, tương đối ít người
thuộc hơn. Tôi cũng ở trong số này. Nhưng đêm nay, trong chuyển tiếp
lặng thầm của trời đất, lòng tôi bỗng quặn lên hình ảnh một người
phải gạt lệ xa quê. Biết bao người đã tức tưởi xa quê, sao phút giây
này tôi lại chỉ mơ hồ thấy bóng dáng Chiêu Quân, một nhân vật, đối
với tôi vẫn chỉ là huyền thoại?
Người thi
sỹ như con tằm, khi nhả tơ là nhả chính nỗi lòng mình. Quang Dũng
gửi gấm gì qua tiếng khóc Chiêu Quân, tôi không rõ, nhưng tiếng khóc
đó đang chiêu cảm lòng người xa quê giữa giờ phút giao mùa, là tôi.
Quê nội
tôi, làng Phương Viên, huyện Đan Phượng, tỉnh Hà Đông mà tôi tình cờ
biết đó cũng chính là nơi Quang Dũng chào đời. Thi sỹ sinh năm 1921
tại làng Phượng Trì, huyện Đan Phượng, nghĩa là cùng huyện, chỉ khác
làng thôi, mà làng quê Việt Nam thì nhỏ bé, nhiều khi chỉ cách nhau
một lạch sông, một bờ đê hay dăm bụi tre ngăn con đường đất đỏ.
Phương Viên và Phượng Trì là hai, trong số tám làng nhỏ mà địa danh
được gọi chung là Tổng Phùng.
Khi khám
phá ra điều này tôi mới thấp thoáng nhớ về những ngày thơ ấu. Mỗi
mùa hè nghỉ học, được về quê chơi, tôi thường đong đưa nằm trên
chiếc võng mắc ở nhà ngang, nhìn qua khung cửa thấy rặng núi xanh
rì. Ngờ đâu, đó chính là rặng núi Ba Vì đã gợi niềm xúc cảm để Quang
Dũng viết nên bài thơ nổi tiếng Đôi Mắt Người Sơn Tây, mở đầu với
những câu:
“Em ở
thành Sơn chạy giặc về
Tôi từ
chinh chiến cũng ra đi
Cách biệt bao ngày quê Bất Bạt
Chiều xanh không thấy bóng Ba Vì”
(+)
Bài thơ
này được cố nhạc sỹ tài danh Phạm Đình Chương phổ nhạc và tự hát.
Thơ và nhạc đã cất cánh bay suốt ba miền đất nước từ nhiều thập niên
qua. Dù người biết nhạc hay không, khi thưởng lãm Phạm Đình Chương
chậm rãi nâng ly rượu sóng sánh, nhấp một ngụm, rồi với tay, lấy cây
đàn tây ban cầm, dạo nhẹ dăm cung bậc và hào sảng cất tiếng:
“Đôi
mắt người Sơn Tây
U uẩn chiều luân lạc
Buồn viễn xứ khôn khuây”
(+)
Thì tâm
hồn người nghe không thể nào không xao xuyến, huống chi, quê người
nghe lại ở ngay miền đất thơ mộng đó!
Viết tới
đây tôi mới mơ hồ thấy cái gạch nối giữa tấm lòng Chiêu Quân và thời
khắc giao mùa.
Thì ra,
chẳng phải Chiêu Quân khiến tôi bâng khuâng, mà là tác giả bài thơ
Chiêu Quân, người gửi gấm tâm sự qua nỗi lòng kẻ sang Hồ. Tác giả
bài thơ - người biết rõ quê nội tôi như chính tôi - là người đang
khơi dậy hồn quê chan chứa trong tôi. Hồn đất linh thiêng nơi bờ đê,
đường làng, cầu ao, bụi cỏ, thẳm sâu đâu đó, dấu chân người, chân
tôi, thế nào chẳng có lúc gần kề. Thế nên chiều nay, tiếng nấc Chiêu
Quân không chỉ là tiếng gọi hồn Quang Dũng mà còn đưa tôi về quê cũ,
nơi ông bà, cha mẹ đã nằm xuống. Quang Dũng gọi, hay chính tôi đang
gọi mình:
“Em ơi!
Em ơi! Đêm dần vơi,
Vọng về phương ấy ngóng trông người
Trăng có soi qua đầu tóc bạc
Nẻo chừng cố quận, nhớ thương ơi!”
(#)
Vâng, nhớ quá và thương
quá, quê ơi! Tôi vẫn biết ngày nay, bờ đê đó, đường làng xưa đã đổi
khác nhưng hồn quê, hồn đất, ngàn năm thấm xương máu Cha, Ông, đã
thành linh địa trong anh, trong tôi thì không gì đổi thay được:
“Khói thuốc xanh
dòng, khơi lối xưa
Đêm đêm sông Đáy lạnh đôi bờ
Thoáng hiện em về trong đáy cốc
Nói cười như chuyện một đêm mưa”
(=)
Kim đồng hồ vừa nhích
khỏi con số 12.
Bính Tuất
đã qua.
Đinh Hợi
vừa tới.
Tôi thắp
ba nén nhang, bước ra sân, vọng về quê hương.
Cắm nhang
bên gốc ngọc-lan, tôi ngước nhìn trời đêm, nhớ về Tổ Tiên, Ông Bà,
Cha Mẹ, nhớ về bao người đã vun bồi Quê Hương, đã đến rồi đi như
giòng sông, chỉ cho mà không chờ nhận.
Trong bóng
đêm, tôi lặng lẽ sụp lạy đủ chuỗi hạt 108.
Mỗi hạt là một lạy.
Nền đất lạnh buốt gồi
quỳ không làm tôi run rẩy lời thành khẩn cầu xin an lạc tới khắp nơi
khổ hạnh.
Diệu Trân
(Như-Thị-Am, Giao thừa Tết Đinh Hợi)
-------------------------------------
Thơ Quang Dũng:
(*) Chiêu Quân
(+) Đôi mắt người Sơn Tây
(#) Cố quận
(=) Đôi bờ |