|
Thiên lý mã
Một
thi sỹ Trung Hoa có nói: “Nơi dấu chân đoàn chiến mã hung hãn, ào
ạt băng qua, nơi đó, mười năm sau cỏ chưa thể mọc và gió còn tanh
mùi máu!”
Mỗi
lần nhớ tới câu nói này, tôi lại nghĩ đến con ngựa già đã đưa Ngài
Huyền Trang đi thỉnh kinh.
Nơi
đoàn ngựa chiến băng qua, dư vị tang thương chết chóc khiến gió hôi
tanh, cỏ chẳng mọc, thì dặm trường thiên lý mà con ngựa già đưa
người phát đại nguyện đi thỉnh kinh để trao truyền lời Phật dạy tới
nhân gian khắp cõi, dặm trường đó, chẳng phải chỉ mười năm, mà trăm
năm, ngàn năm, đời này, đời sau, muôn đời sau nữa, chắc hẳn gió còn
thơm ngát hương chiên-đàn, cát còn long lánh kim cương, sông suối
còn ngọt ngào Ba-la-mật.
Tôi
không thích những nhân vật và những tình tiết thần thông xoay quanh
câu chuyện này nên chưa bao giờ thực sự cầm một cuốn sách nào viết
về giai thoại lịch sử cực kỳ quan trọng mà vị pháp sư đời nhà Đường
đã làm nên. Nhưng tôi lại rất muốn biết về con đường gian nan, hiểm
nguy cùng cực mà Thầy Huyền Trang đã trải qua khi vượt sa mạc Qua
Bích mênh mông khắc nghiệt dài hơn 800 dặm. Sa mạc đó, trên trời
không chim bay, dưới đất không thú chạy, không cây, không nước,
không một dấu hiệu của sự sống!
Trong
gia đình tôi, từ cha mẹ, cho tới anh chị em, ai cũng say mê những bộ
truyện kiếm hiệp của Kim Dung và ai cũng đã từng đọc qua Tây Du Ký.
Mỗi người, bị mỗi câu chuyện đó lôi cuốn ở mỗi giai thoại, mỗi khía
cạnh khác nhau nên những bữa cơm tối, chỉ cần ai đó nói lên truyện
nào là thành ngay những “đại hội bất thường” sôi nổi.
Tôi
lõm bõm biết đến những nhân vật lừng danh của Kim Dung như Vô Kỵ,
Triệu Minh, Chu Chỉ Nhược, Tạ Tốn, những môn phái hắc bạch trong
chốn giang hồ, là do ngồi dự khán những đại hội đó chứ chẳng thể nhớ
được ai bạn, ai thù, ai thiện, ai ác, ai ở bộ truyện nào.
Cũng
thế, tôi biết về sự tích Ngài Huyền Trang đi thỉnh kinh là do các
“diễn giả không chuyên nghiệp” trình bầy. Nhưng vì đã rắp tâm chỉ
ghi nhận những gì muốn biết và loại bỏ ngay những gì không thích
biết nên tôi cũng đã tự phác họa cho mình một bức tranh về sự kiện
lịch sử này. Bức tranh hình thành do góp nhặt những lời kể chủ quan
của thành phần gia đình nên tất nhiên sẽ có những chi tiết đúng với
người này mà sai với người kia. Xin vị nào đọc tới bài này đừng quá
nghiêm khắc với chi tiết. Nếu không đúng ý mình nghĩ thì xin xem như
…. Thần thông biến hóa ra như thế!
Tôi
ghi nhận được nhiều tình tiết nhất là từ cha tôi, những tình tiết
không có Tôn Ngộ Không, Chư Bát Giới đại náo vào.
Ngài
Huyền Trang xuất gia ở đâu, lúc bao nhiêu tuổi thì cha không rõ,
nhưng những địa danh mà Ngài bôn ba cầu đạo thì cha biết có vẻ tường
tận lắm.
Ngài
là một người cầu học tận gốc, cầu biết tận ngọn chứ không phải học
để làm dáng trí thức. Nên ở Xuyên Đông, Xuyên Tây, Ngài tìm đến các
danh sư mà không ai giúp Ngài thỏa mãn những khúc mắc, bèn lặn lội
qua Sơn Đông, Hồ Bắc, miệt mài khắp các tỉnh miền Bắc Trung Quốc mà
càng đi, lòng càng khắc khoải, khổ đau. Chẳng lẽ khắp trong thiên hạ
không tìm ra minh sư ư?
Khi
ấy, Ngài chợt nhận ra rằng đa số Chư Tăng, trí thức, chưa thấu triệt
lẽ đạo vì kinh điển lưu hành quá ít! Phần phiên dịch lại nhiều sai
sót, khó hiểu! Từ nhận xét này, Ngài Huyền Trang đã nảy ý định tới
Ấn Độ thỉnh kinh, vì nơi đó là gốc phát sinh Đạo Phật, nơi Đức Thế
Tôn thành đạo và lập tăng đoàn đầu tiên hoằng pháp. Nơi đó mới có hy
vọng còn giữ những văn kinh bản gốc.
Nhưng
thời đó, ý định Tây-du của Ngài Huyền Trang là hoang đường, là điều
không tưởng vì đường từ Trung Hoa sang Ấn Độ quá xa xôi, hiểm trở,
không có một phương tiện tương đối an toàn nào có thể thực hiện được
chuyến đi. Chưa kể, dù có tới đích thì hy vọng đạt được sở nguyện
cũng chỉ mơ hồ vì biết có ai còn đủ quan tâm gìn giữ kho tàng kinh
điển xưa không?
Ấy
thế mà dũng mãnh phát tâm không hề lay chuyển. Ngài âm thầm hoạch
định lộ trình và thấy rõ đường xa vạn dặm đó không đoạn nào thiếu
hiểm trở, gian nguy, thú rừng, cướp bóc …. Kinh hoàng nhất là phải
vượt qua một sa mạc dài tới 800 dặm mà chỉ có bão cát mịt mù ngày
đêm, nơi từng vùi xác bao người, ngựa muốn thử sức với khắc nghiệt
thiên nhiên.
Để
chuẩn bị cho chuyến đi gian khổ, Ngài đã lập nguyện nhịn ăn, nhịn
uống, giãi gió dầm sương, luyện thân tâm thành sắt thép.
Cuối
cùng, Ngài quyết khởi hành từ tỉnh Lương Châu vì nơi đó giáp ranh
đường về miền Tây Ấn Độ.
Khi
đó Ngài Huyền Trang vừa ba mươi bốn tuổi.
Chính
tại tỉnh Lương Châu này, Ngài gặp một người lái buôn bản xứ, cốt
cách đạo mạo, nghiêm minh khiến vừa gặp, Ngài đã sanh lòng tin yêu
nên không ngần ngại thổ lộ ý nguyện của mình.
Cũng
chính nơi đây, Ngài có được bạn đồng hành, giúp Ngài thực hành tâm
nguyện.
Bạn
đồng hành rất quan trọng đó là con ngựa già của người bản xứ.
Tất
cả những gì tôi được nghe, được biết về dặm trường thiên lý thỉnh
kinh của Ngài Huyền Trang, đối với tôi, quan trọng nhất, cảm động
nhất, mầu nhiệm nhất, là ở thời điểm này. Nhưng bất nhẫn thay, đại
đa số những tác giả viết về Đường Tam Tạng thỉnh kinh, tới đây, đều
lướt qua, để thêm vào đó những diễn viên thần thông dị hợm!
Khi
tới Lương Châu ít lâu, con ngựa của Ngài Huyền Trang không quen thủy
thổ, bệnh mà chết! Ngài phải tìm mua con ngựa khác. Ấy thế mà khi
gặp, và thổ lộ tâm tư với người lái buôn bản xứ, ông ta trầm tư giây
lát rồi đề nghị đổi con ngựa già của mình lấy con ngựa trẻ trung,
tốt đẹp mà Ngài Huyền Trang đang dùng. Ông ta thưa Ngài rằng, Ngài
cần con ngựa già này vì nó rất thuộc đường tới phương Tây, nhất là,
đã từng chở hàng hóa vượt sa mạc nắng cháy, đã quen dàu giãi tuyết
sương nên tuy già mà vẫn khỏe, chứ chú ngựa non sáo đá đẹp đẽ kia
không vượt nổi 10 dặm sa mạc gió cát đâu, nói gì 800 dặm!
Đối
với người lái buôn bản xứ, chắc chắn con ngựa già quen đường này quý
gấp bội hơn con ngựa non đẹp đẽ kia. Vậy mà sao ông ta sẵn lòng đổi
cho một người xa lạ chỉ vừa tình cờ gặp, khi người ấy thổ lộ muốn đi
về phương Tây?
Có ai
nhìn thấy sự cảm thông kỳ diệu giữa hai tấm lòng này không?
Sự kỳ
diệu đó có phải chỉ là ngẫu nhiên đời thường, hay đó chính là “Sự
cảm thông không thể nghĩ bàn”?
Chưa
hết đâu.
Sự kỳ
diệu này chỉ là mở đầu của bao nhiêu mầu nhiệm mà người đó, ngựa đó
đã cùng nhau chia xẻ trên dặm trường hung hiểm.
Với
lương khô và những túi da đựng nước đeo trên yên, người và ngựa vượt
qua bao đồng cỏ, bao đồn canh, bao hiểm nguy rình rập, bao phen
tưởng như thấy Diêm Vương, nhưng chưa quỵ thì cứ nhắm suối Dã Mã ở
hướng tây mà đi. Ngày đi, đêm nghỉ rồi cũng tới ranh giới sa mạc tử
thần!
Không
chút nao núng, con ngựa già băng băng lao vào sa mạc. Hai mươi dặm,
ba mươi dặm, năm mươi dặm … Nhưng rồi, gió bỗng nổi lên, cát khắp
phía mịt mù, cuồng lốc như muốn cuốn thốc cả đại địa. Ngựa, chắc đã
từng trải qua như thế; còn người, thì thân tâm đã chuẩn bị cho thử
thách này nên bão cát cuồng phong không ngăn được quyết tâm của
người và ngựa.
Đi
suốt năm ngày như thế, thì cả hai đều mệt lả! Túi da đựng nước đã
văng đi đâu mất và phương hướng thì mù tăm, bất định.
Trên
sa mạc mà lạc đường, không nước thì cái chết đã đâu đây!
“Nam Mô Cứu Khổ Cứu Nạn Quan Thế Âm Bồ Tát, nếu thân tâm và trí
tuệ của kẻ phàm phu này còn làm được gì lợi ích chúng sanh thì xin
ân đức Bồ Tát gia hộ cho con.”
Chỉ
một lời nguyện thành tâm, bão cát chợt dịu lại, và cơn gió mát từ
đâu thoảng tới khiến người và ngựa đều choàng tỉnh. Cả hai gắng
gượng lần mò đi thêm một đoạn đường ngắn nữa thì con ngựa già bỗng
hí vang! Nó vừa nhận ra một lối mòn quen thuộc! Vừa tiếp tục hí, nó
vừa phi nước đại vào lối mòn đó. Không bao lâu, Ngài nghe thấy âm
thanh róc rách của giòng suối ngọt, như nhạc trời đang tấu những
khúc nhạc hồi sinh.
Suối kia rồi!
Ôi là mát!
Ôi là trong!
Bạch-mã yêu quý ơi! Hãy xuống uống đi! Hãy uống cho no nê! Hãy tạ ơn
Bồ Tát Quan Thế Âm! Hãy uống đi! Ta cũng đang uống nước Cam-Lồ đây!
Hãy uống đi, rồi cùng ta ngủ một giấc cho say! Bạch-mã ơi! Hãy ngủ
cho say để khi ánh dương vừa rạng, chúng ta sẽ nhắm hướng nước Y-Ngô
mà tới. Chắc Bạch-mã đã biết rằng, qua khỏi được sa mạc kinh hoàng
này là biên giới Y-Ngô, từ đó, chúng ta dễ dàng đến Cao-Xương, sang
Khuất-Chi, qua Đột-Quyết. Chúng ta sẽ vượt Hy Mã Lạp Sơn và sẽ thấy
biên giới Ấn Độ. Chư Phật, Chư Bồ-Tát sẽ hộ trì chúng ta thỉnh được
kinh điển, làm bản đồ cho khắp cõi chúng sanh tìm về đường Giác Ngộ,
giải thoát.
Có
lẽ, khi con ngựa già nhớ ra đường, tìm được giòng suối cứu tinh thì
Ngài Huyền Trang đã vô cùng hoan hỷ như thế.
Nhưng
khi tôi hỏi cha, là Ngài Huyền Trang vượt được sa mạc, đến nước
Y-Ngô rồi sao, thì cha tôi vui vẻ, giơ cả hai tay lên trời mà nói
rằng:
-
Ồ,
tới đây là “Qua cơn bỉ cực tới hồi thái lai rồi”. Từ đây, Ngài Huyền
Trang đi qua nước nào cũng được vua nước đó trọng đãi và tặng bạc
vàng, thực phẩm, lụa là, nhiều không biết bao nhiêu mà kể, vì hạnh
nguyện vĩ đại của Ngài đã được nhân gian truyền nhau, xôn xao từ xứ
này sang xứ kia. Có cả những nước muốn giữ Ngài ở lại không được,
vua nước đó sai quan quân tiễn Ngài bằng từng đàn ngựa quý! Ngài ở
bên phương tây đến hơn 17 năm, sưu tập được hơn 600 bộ kinh cùng rất
nhiều bảo vật từ thời Đức Phật tại thế. Khi trở về nước, Ngài lập
tức bắt tay vào việc phiên dịch, miệt mài gần 20 năm và hoàn tất
được 75 bộ kinh đồ sộ. Ngài đã đạt thành đại nguyện và trở thành vĩ
nhân vì sự đóng góp lớn lao đó cho Phật Giáo.
Tôi
cũng được nghe từ thầy, cô, từ bạn bè về thành quả cực kỳ tốt đẹp,
vinh hiển đó. Nhưng tôi đã không thể không hỏi cha về một chi tiết
mà hình như không ai nhắc tới. Đó là bạn đồng hành trên đoạn đường
gian khổ nhất với Ngài. Tôi hỏi cha rằng:
-
Thế, còn con ngựa già đã cùng Ngài Huyền Trang vượt dặm trường thiên
lý gian nguy thì sao? Sau khi được tặng biết bao ngựa quý thì Ngài
có còn cưỡi con ngựa già đó mà đi tiếp hay không?
Cha
tôi mở to mắt, nhìn sững tôi.
Có lẽ cha không hề nghĩ đến điều đó!
Có lẽ chẳng ai nghĩ đến điều đó!
Chẳng ai nghĩ đến bạn đồng hành tận tụy đó của Ngài Huyền Trang.
Chẳng
ai quán chiếu rằng, nếu cơ duyên mầu nhiệm không xảy ra để người đó
gặp được ngựa đó, thì có lẽ đại nguyện của người khó mà thành tựu!
Vậy
mà, qua cơn bỉ cực, con ngựa già lặng lẽ dừng vó nơi đâu, không ai
nhắc tới!
Với
tâm từ bi, tôi chắc Ngài Huyền Trang đã giao nó cho một người nhân
ái nào, dặn dò chăm sóc nó chu đáo, cho nó được nghỉ ngơi, nhàn hạ
lúc tuổi già.
Không
hiểu sao, tôi tin như thế.
Nhưng còn tấm lòng bạch-mã?
Chắc
gì nó muốn nghỉ ngơi khi phải xa người mà nó kính yêu, ngưỡng phục.
Thơ thẩn ra vào nơi chuồng đẹp, cỏ tươi, nó thường nhớ về cơn bão
cát, tưởng đã chôn vùi một kiếp. Nhưng lạ lùng thay, chỉ một tiếng
niệm Quan Âm mà gió đã ngừng, trăng đã sáng. Nó làm sao quên được
giây phút nhiệm mầu ấy, giây phút như lằn chớp nhưng đủ cho nó mơ hồ
thoáng thấy kiếp sau.
Kiếp
đó, nó mặc áo phấn tảo, chân trần, ôm bình bát thong dong tự tại đi
giữa bao chốn bụi.
Kiếp
đó, nó hoan hỷ rao giảng bao công trình mà người vừa cùng nó vượt
hiểm nguy đã gom về được.
Nó
rất an tâm chờ chuyển hóa, luân hồi. Nhưng nhớ cố nhân, đã nhiều đêm
trăng sáng, nó ngước nhìn trời mà hí lên lời hoài vọng:
“Thảng như con ngựa già vô dụng
Chủ bỏ ngoài
trăng,
Đứng một mình!”(*)
Diệu
Trân
(Như-Thị-Am, đầu năm Đinh Hợi)
(*) Thơ Tô Thùy Yên (?) |