Xông trầm cẩn bút, kính dâng chư tôn đức
Tăng Ni Việt Nam Hải Ngoại tham dự “Ngày Về Nguồn”
tổ chức tại Chùa Pháp Vân, Mississauga, Canada
vào các ngày 21-23/9/2007
Vĩnh Hảo
Chớp
mắt sinh tử
Con đường dù đã được tráng nhựa thật tốt vẫn cứ là con đường
của sa mạc với nhiều đoạn nhấp nhô, ngoằn ngoèo nương theo độ
dốc của trùng trùng đồi núi. Gần một giờ đồng hồ, chiếc xe
chạy tốc độ một trăm hai mươi kí-lô-mét mới vượt hết vùng sa
mạc hừng hực bỏng cháy. Lác đác đâu đó dưới chân những ngọn
đồi trọc có niên đại hàng mấy chục triệu năm, hoặc trên những
bãi cát vàng mênh mông, là dấu vết để lại của những dòng nham
thạch đen tuyền.
Nơi này, triệu triệu năm trước là biển; chỗ kia, triệu triệu
năm trước là sông. Những ngọn núi lửa đã tắt ngấm từ mấy chục
triệu năm trước. Nước biển đã từng dâng lên ở những khoảng
này. Sóng biển đã từng vỗ lên ở những bờ đá kia. Có lẽ đã từng
có ghe thuyền qua lại nơi đây. Có lẽ đã từng có những làng mạc
hay bộ lạc nào đó định cư chỗ này. Cũng có thể không hề có
bóng dáng con người sinh hoạt trên một vùng chỉ thấy đá tảng
và cát vàng trải rộng mênh mông.
Các nhà địa chất, nhân chủng, sinh vật, xã hội học… thời nay,
hẳn đã từng nghiên cứu và đưa ra những ước đoán, giám định
hoặc kết luận nào đó về đời sống của con người, muông thú, và
thực vật nơi vùng này từ hàng triệu năm trước. Nhưng tài liệu
sách vở của họ không liên hệ gì với người lái xe băng qua sa
mạc vào một buổi trưa đứng bóng. Chỉ có chiếc xe phăng phăng
phóng tới, và con đường trước mặt như cuốn nhanh vào ở mũi xe.
Chung quanh, trùng trùng những ngọn núi cổ sậm màu gạch và ở
trên, vẫn là trời cao xanh ngát dợn một vài đám mây trắng nhỏ
bềnh bồng.
Tài liệu, chứng liệu lịch sử, cũng không gì thực bằng những
lùm cây bụi cỏ bên đường và trong những hốc đá, cũng không gì
thực như viên sỏi nhỏ hay những hạt cát vàng trên tay. Ở nơi
trời đất mênh mông với chứng tích của đồi núi cổ đại, mới cảm
nghiệm nỗi lòng của Trần Tử Ngang ngày xưa. Thường khi, cái
mênh mông của không gian gợi cho mình cái mang mang của thời
gian, hoặc ngược lại, nghiệm về cái vô cùng của quá khứ tương
lai mà cảm cái vẻ vô hạn của mười phương đất trời.
“Tiền bất kiến cổ nhân
Hậu bất tri lai giả
Niệm thiên địa chi du du
Độc thương nhiên nhi lệ hạ.”
(Trần Tử Ngang)
Ngoảnh trước người xưa không thấy
Ngoái sau người mới chưa sinh
Nghiệm lẽ mang mang trời đất
Bất chợt lệ sa một mình.
(Vĩnh Hảo tạm dịch)
Trong cái vô tận của không gian và thời gian, thấy đời mình
nhỏ nhoi như hạt bụi. Ba mươi năm, năm mươi năm, một trăm năm,
có nghĩa gì đâu. Hàng hàng lớp lớp những núi đá bên đường đã
có mặt từ nhiều triệu năm trước. Sau lưng, trước mặt, là cái
mịt mùng sâu thẳm của bóng thời gian. Cuộc sống trăm năm, xem
lại thì chỉ là một chớp mắt trong dòng biến dịch hun hút không
cùng của lũy kiếp luân hồi sinh-diệt, diệt-sinh. Một chớp mắt
có là bao mà kết thu cả nghìn trùng khổ lụy, hạnh phúc, hận
thù, yêu đương, đấu tranh, an phận, nỗ lực, mỏi mệt, tự ái, tự
trọng, tự vệ, tự đại, tự vấn, tự do (nói năng, khóc, cười, im
lặng, sáng tạo và suy tư)… Mới hôm nào còn ngồi trên bãi biển
nhìn ngắm những con tàu xa khơi, ước mơ một chuyến hải trình
đi khắp những đại dương bát ngát và các lục địa xa xôi. Nhìn
cánh chim bay, ngắm áng mây trời, mơ ước từng ngày theo gió
cuốn đi. Tuổi thơ vụng dại chỉ biết làm bạn với biển xanh và
cái gì cao rộng. Biển chưa đủ sâu. Trời chưa đủ rộng. Lòng
thành ấu thơ dâng hết cho thiền môn thanh vắng. Ê a kinh kệ
sớm hôm. Xào xạc mỗi ngày quét lá. Tương chao thấm nơi xương
tủy. Áo vải bảo vệ thân, tâm. Tiếng chuông ngân lời tỉnh thức.
Đèn tuệ khơi sáng đêm ngày…
Rồi cũng chưa đầy chớp mắt của cuộc tồn sinh mộng ảo, thương
sinh linh thống khổ điêu tàn, có khi phải đốt thân cho chánh
pháp cửu trụ, có khi phải dấn mình vào chỗ ngục tù lao lung,
có khi phải ẩn nhẫn để bảo vệ đạo vàng trong thời buổi nhiễu
nhương. Động-tĩnh, tiến-lui, im lặng như núi tảng, gầm thét
như hải triều, đều chỉ vì đại nguyện hoằng truyền đạo lớn. Lau
bát nhang đầy bụi, quét một sân ngập lá, kinh kệ sớm chiều, đi
đứng nằm ngồi có lúc nào rời khỏi cội nguồn chân tâm! Trong
cái chớp mắt của sinh tử, làm tất cả phật-sự mà không động
khởi một niệm vấn vương thủ đắc. Những thăng-trầm, vinh-nhục,
còn-mất, được-thua, chẳng qua chỉ là bọt nổi trên mặt đại
dương tịch lặng bao la. Cuối đời ngoảnh lại, vẫn chỉ là hai
bàn tay không của người hương đăng, quét lá. Một chớp mắt hay
một chuỗi dài mộng mị trăm năm, đã làm được gì, chưa làm được
gì? Cái làm được có mang lại lợi lạc cho mình cho người, cho
sự hưng thịnh của chánh pháp không, hay chỉ là những vọng động
nhất thời làm tổn hại tín tâm của đồ chúng, dìm đạo lớn vào
chỗ lụn tàn suy vi?
Ngày
về nguồn
Thao thức gì mà đêm đêm chong đèn không ngủ? Đau thương gì mà
lệ nóng chực rơi? Đạo pháp suy vi đâu phải chỉ vì tà ma ngoại
đạo quấy phá! Sư tử trùng đục khoét còn bi lụy trầm thống gấp
trăm. Hai nghìn năm chưa phải là dài đối với vô lượng kiếp
huân tu. Ba mươi năm hoạn nạn lại càng ngắn ngủi hơn. Nhưng
một chớp mắt mê mờ có thể chôn vùi cả nghìn năm của lịch sử
hoằng truyền chánh pháp. Còn gì, mất gì? Nửa khuya thức dậy,
xông trầm đốt hương, khoác ca-sa mà nhớ lời nguyền ban sơ,
tụng câu kinh không khỏi tâm tư bàng hoàng chấn động.
“Hủy hình thủ chí tiết
Cát ái từ sở thân
Xuất gia hoằng Phật đạo
Thệ độ nhất thiết nhân”
Từ bỏ dáng đẹp nêu nguyện lớn
Xa lìa cha mẹ, xa người thân
Xuất gia giốc lòng truyền Phật đạo
Đời đời kiếp kiếp độ quần sinh.
(Vĩnh Hảo tạm dịch)
Lịch sử không phải lúc nào cũng một đường thẳng tắp. Mà thường
khi là khúc đường xuống lên của vinh quang và khổ nhục. Có khi
là sự uốn lượn của con đường ngoằn ngoèo vượt qua những chập
chùng oan khiên. Máu rơi. Lệ đổ. Thầy-trò, huynh-đệ chung một
màu áo, cùng một đức điều-ngự bổn sư, vì nguyện rộng mà xuất
thế ly gia hoằng truyền chánh đạo, không lẽ vì những đảo điên
nhất thời của thế cuộc mà tổn hại nhau, chia lìa nhau? Hơn ba
mươi năm, như những giòng sông chia nhánh, chảy qua những đồng
bằng hay len lỏi qua hốc đá cheo leo. Lớn-nhỏ, đục-trong, cũng
là tùy nhân duyên mà tuôn chảy. Không có chân lý tuyệt đối của
giòng sông. Cũng không có gì gọi là chính danh, hay chính
nghĩa độc tôn của các phương tiện. Chỉ có chánh pháp tối
thượng khai mở con đường viễn ly xuất thế, đoạn trừ phiền não,
chứng ngộ giải thoát. Xa lìa thật nghĩa của chánh pháp mà bày
vẽ phương tiện thì chỉ là chắp vá vô hồn lạc điệu của ngoại
đạo tà ma.
Hơn ba mươi năm qua, những giòng sông càng lúc càng khô cạn,
đẩy đưa những con thuyền lớn-nhỏ đi vào tuyệt lộ hoặc chơ vơ
mắc cạn trên sa mạc hoang vu khô khốc. Vét đáy, khơi nguồn, là
nỗ lực để mở hướng cho sông, và cho thuyền về nơi biển lớn. Ở
nơi chỗ tận cùng của chia lìa, suy vi, tất phải mở mắt vươn
mình đứng dậy. Lịch sử đóng lại hay mở ra, chẳng qua chỉ là sự
mấp máy chuyển động của trùng trùng nhân duyên tương sinh
tương diệt; mà trên tất cả những biến động, chấp tranh,
tồn-vong, thăng-trầm ấy, là sự bất khả hoại diệt của Phật tâm,
của chánh pháp, và của bản thể thanh tịnh hòa hợp của Tăng
đoàn.
Sông có thể khô cạn nhưng biển lớn hãy còn đó. Hướng đi của
Phật giáo tùy thuộc nơi sự cất bước một cách trí tuệ, dũng
mãnh và từ bi của Tăng đoàn. Tăng là đại hải thanh tịnh, là
chỗ nương của thất chúng, là ngõ về của muôn sông. Không có
giòng sông đúng hay sai. Không quan trọng giòng sông lớn hay
nhỏ. Cũng không miễn cưỡng trăm sông phải thống hợp thông
thương. Chỉ cần làm sao, mỗi giòng sông phải cưu mang bản thể
thanh tịnh và hòa hợp của biển lớn.
Ngày Về Nguồn
là dấu hiệu khởi đầu cho sự trở về của trăm sông vào biển lớn.
Một khi biển lớn mở ra, chắc chắn tà ma ngoại đạo và những ác
đảng đều sẽ ra sức cản ngăn, chống phá, xuyên tạc. Nhưng với
niềm tin bất hoại đối với Tam bảo, người con Phật khắp nơi đều
hân hoan khấp khởi, kỳ vọng nơi sự kiên trì, dũng mãnh, sáng
suốt và đạo tình gắn bó của những trưởng tử Như Lai để có thể
mở ra lộ trình cao đẹp của Phật giáo Việt Nam tại hải ngoại.
Vượt trên tất cả những danh xưng và tổ chức, vượt trên tất cả
những đối nghịch mâu thuẫn nhất thời của trăm sông trong dòng
huyễn dị cuộc đời, xin hãy vì sự hưng long của Phật Pháp, vì
lòng mong đợi của hàng phật-tử khắp năm châu, hãy cất những
bước đi của voi chúa, dẫm trên gai góc và bùn nhơ thế gian để
mở hướng cho tương lai sáng ngời của Phật giáo Việt Nam trong
thế kỷ mới.
Được vậy thì, một chớp mắt phù du cũng có thể mở toang cánh
cửa vô tận cho người sau noi dấu, và cho sự lợi lạc của khắp
muôn loài chúng sinh. |