.

PSN
BỘ MỚI 2008
HỘP THƯ

                           TRANG CHÍNH

Hãy tự thắp đuốc mà đi !
 CHUYÊN MỤC

Tư Tưởng

Văn hóa

Giáo Dục

n Học

Diễn Đàn

Chính Luận

Ký Sự - Xã Hội

Khoa Học & Môi Trường

Việt Nam trong dòng thời sự

Đạo Bụt trong dòng văn hóa Việt

 TƯ LIỆU

Công Ước Quốc Tế Về Những Quyền Dân Sự và Chính Trị

Công Ước Quốc Tế Về Những Quyền Kinh Tế, Xã Hội và Văn Hóa

Bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền

Nguyên Tắc Của Nền Pháp Quyền

Thế Nào Là Dân Chủ ?

Các Vấn Ðề Dân Chủ

 TỦ SÁCH

Sophie Quinn-Judge: Hồ Chí Minh những năm chưa được biết đến

Vũ Hữu San: Địa lý Biển Đông với Hoàng Sa và Trường Sa

Lê Minh Văn: Về một NỀN DÂN CHỦ PHÁP TRỊ VIỆT NAM

Mao, câu chuyện không được biết

Gene Sharp: Từ Độc Tài đến Dân Chủ

Vũ Thư Hiên: Đêm giữa ban ngày


 

 

 Thiền sư Thích Nhất Hạnh

DUY THỨC HỌC

1 | 2 | 3 | 4 | 5 | 6 | 7 | 8 | 9 | 10 | 11 | 12 | 13 | 14 | 15 | 16 | 17 | 18 | 19 | 20 | 21 | 22 | 23 | 24 | 25 | 26 | 27 | 28 | 29 | 30

  • PSN - 1.11.2009 - Pháp thoại của Sư ông Làng Mai trong mùa An cư kiết đông 1989 - 1990
    - Chân Thuyên & Chính Bình
    phiên tả,
    - Chân Tịnh Không & Chân Tịnh Lạc biên tập,
    - Chân Đức & Chân Minh
    hiệu đính.

5.

Niệm Phật
Câu niệm Phật phải mang theo chất liệu của tỉnh thức, của trí tuệ, của tình thương và từ bi, thì câu niệm Phật đó mới có nội dung. Khi đã có nội dung, nếu có rơi xuống dưới a-lại-gia thức, nó sẽ là một chủng tử tốt. Nếu câu niệm Phật chỉ là sáu âm thanh mà không có nội dung: Nam mô A Di Đà Phật. Thì chỉ có sáu âm thanh đó rơi xuống tiềm thức, nó có rơi xuống mấy cũng vậy, nó chỉ có hình ảnh của âm thanh đó thôi. Có thể là khi chúng ta bị tai nạn, nó nảy lên câu Nam mô A Di Đà Phật. Câu niệm Phật đó chỉ là sáu tiếng thôi mà không có chánh niệm. Niệm Phật như vậy vô ích lắm. Cũng như chúng ta dùng một xe vận tải để đi chở những gạch, những ngói, những gỗ về xây nhà. Nếu xe đó dầu có đi một ngàn chuyến mà trên xe không có gạch ngói và gỗ, thì không bao giờ chúng ta làm được nhà. Chỉ cần niệm một tiếng thôi, nếu tiếng đó có tỉnh thức trong ta, có hạt giống của sự hiểu và sự thương, thì câu niệm Phật đó mang theo nội dung của Phật. Tâm thức của chúng ta sẽ được rạng ngời bằng những chất liệu đó. Nếu không, niệm hai chục năm cũng không có ích lợi gì. Trong kinh có nói là: chúng ta đếm bạc giả và bỏ vào trong tủ, thì chúng ta có đếm bao nhiêu đi nữa cũng không giàu được.

Tôi kể sau đây câu chuyện ở trong Being Peace. Có một bà đó niệm Phật quá nhiều, nhưng tâm thức của bà không vì thế mà thay đổi, bà vẫn sân si như thường. Hôm đó bà mất một con gà, bà giận lắm. Tại vì nuôi một con gà lớn lên đến như vậy mất bao nhiêu công phu. Đây là chuyện có thiệt xảy ra ở ngoài Bắc. Bà đứng ở hàng rào mà chửi: ai nở ăn tươi nuốt sống con gà của bà. Nhưng bà nghĩ rằng chửi như vậy đôi khi cũng không tới tai thủ phạm, vì đôi khi người ăn trộm gà là người hàng xóm xa. Bà mới trèo lên trên nóc nhà, bà ngồi, bà chửi. Như vậy để cho âm thanh của bà có thể đi xa được, tới được thủ phạm thì bà ta mới đã giận. Tôi còn nghe bà ta nói rằng: bữa nay tao ăn chay, thành ra tao chỉ chửi sơ sơ thôi. Bà nói như vậy nhưng bà vẫn giận, thành ra trong câu chót biểu lộ cái tâm của bà nhiều nhất. Bà nghiến răng lại nói: Nam mô A Di Đà Phật, trời ơi là trời. Tại vì đối với bà con gà là quan trọng lắm, trời ơi là trời, nó chứng tỏ là bà rất đau. Còn Nam mô A Di Đà Phật là cái khuynh hướng muốn tu của bà. Thành ra trong cái sân si của bà, chúng ta thấy tội nghiệp lắm. Chúng ta không nói bà giả dối, niệm Phật mà không tu. Nhưng vấn đề là bà không có pháp môn chính xác, cho nên bà càng tụng chừng nào thì tâm bà càng rối chừng đó.

Đây là câu chuyện thứ hai của một bà khác ở thành phố. Có ông kia thấy bà niệm Phật lâu như vậy mà không có thay đổi gì hết, cho nên ông mới cho bà một bài học. Một bữa chiều đó, nhằm lúc bà mới bắt đầu lên chuông mõ, bà niệm Phật rất là đúng thời, đúng giờ. Bà thắp nhang và tụng, tiếng mõ của bà vang trong xóm. Ông ta tới đúng lúc bà lên chuông mõ và tụng. Ông ta đứng ngoài ngõ kêu: bà hai ơi, bà hai. Bà dằn xuống, bà thầm nói: người ta đang tụng kinh mà kêu như vậy thì không có dễ thương gì hết, không biết điều. Bà mới gõ mõ lớn lên để chứng tỏ rằng ta đang niệm Phật. Ông kia biết, nhưng ông đâu có cần chuyện đó, ông chỉ muốn dạy cho bà một bài học. Thành ra ông càng kêu lớn hơn nữa, bà càng tức. Chúng ta thấy có tội nghiệp cho cái mõ không? Trong khi bà gõ mõ như vậy cái tâm của bà rất là giận, càng giận thì tiếng mõ càng không có chánh niệm. Ông đó tiếp tục kêu như vậy và đến lúc bà không chịu đựng nổi cái hiện hành của cơn giận trong ý thức, bà quăng chuông, quăng mõ, đứng dậy đi ra bà chửi, bà chửi dữ lắm. Nội dung nói rằng: kêu cái gì mà kêu, ta đang tụng kinh niệm Phật, không biết sao mà kêu, không biết điều gì hết. Nhưng bà nói với một cái giọng dữ hơn nhiều, tôi bắt chước không được. Khi thấy bà ta dữ dằn, thân với tâm của bà hiển lộ ra sân si như vậy, thì ông ta mới cười, ông nói: bà thấy không, tôi kêu bà mới có ba bốn chục tiếng mà bà sân si như vậy, huống hồ bà kêu tên của Phật cả ngày, cả đêm chắc là Ngài giận bà lắm. Vì vậy pháp môn Tịnh Độ có thể rất là mầu nhiệm, rất là hay, nếu chúng ta biết niệm một câu danh hiệu Bụt với nội dung của nó, nhưng cái đó không phải là dễ. Như quý vị biết, sự thực tập của chúng ta có thể bị lờn. Khi tôi đưa ra một bài kệ, thì trong mấy tháng đầu quý vị thực tập bài kệ đó rất là hay, rất là có nội dung. Nếu quý vị thực tập hai ba năm thì bài kệ đó đôi khi nó bị xoi mòn, thành ra không tạo ra được chánh niệm cùng sự tỉnh thức, cho nên phải thay một bài kệ mới. Một bài kệ có thể dùng nhiều cách và đôi khi chúng ta phải thay bài kệ mới, để cho sự thực tập của chúng ta có nội dung. Sự thực tập mà không có nội dung, cũng giống như bà kia mà thôi, không có ích lợi gì cả, rất là mất thì giờ.

Trong thiền tập, chúng ta không nghĩ rằng niệm Phật là sai lầm. Niệm Phật đúng cách là một phương pháp thiền quán rất hay. Chúng ta chỉ mong rằng: Khi niệm Phật phải có nội dung của sự tỉnh thức, giữ gìn cho câu niệm Phật trở nên một phương tiện chuyên chở những gì nó có thể chuyên chở được.
 

Sở tri y

A-lại-gia còn có nhiều tên, hôm nay tôi thêm một tên nữa là sở tri y. Sở tri y có nghĩa là đối tượng của nhận thức, cũng như là cảnh vậy. Trong nhận thức có hai phần, một phần là chủ thể, một phần là đối tượng. Phần chủ thể là năng tri và phần đối tượng là sở tri. Quý vị nên nhớ: chữ năngchủ thể và chữ sởđối tượng. Tri tức là biết, sở tri tức là cái được biết. Năng tri là chủ thể biết, sở tri là được biết, còn sở tri y tức là chỗ nương tựa cho sở tri. Tức là chúng ta biết được, thấy được, tiếp nhận được những đối tượng. Những đối tượng như là núi, sông, cây, cỏ, người và những chủng tử độc ảnh trong chúng ta. Tất cả những sở tri đó cũng có một nền tảng để dựa vào, một nguồn gốc để phát khởi, nguồn gốc đó là a-lại-gia thức. Cho nên a-lại-gia thức có tên là sở tri y, tức là chỗ căn cứ. Y là chỗ y cứ, căn cứ để phát sinh ra đối tượng của nhận thức. Ví dụ như năm giác quan của chúng ta là mắt, tai, mũi, lưỡi, thân. Sở dĩ chúng ta biết rằng chúng có mặt, tại vì chúng là những sở tri y. Tức là chúng ta nhìn vào con mắt chúng ta thấy đây là con mắt, thì con mắt là một sở tri. Con mắt ở những trường hợp khác gọi là căn, tức là căn cứ để phát sinh ra thức. Nhưng nó cũng là một sở tri, tức là một đối tượng của sự nhận biết, cảnh cũng vậy. Căn là chỗ căn cứ để phát sinh ra thức, còn cảnh là đối tượng tiếp xúc với căn. Hai cái này đều là sở tri cả, nhưng thức là năng tri, đồng thời cũng là sở tri được. Tại vì khi chúng ta đem thức ra quán sát, chúng ta lấy một đối tượng tâm lý làm đối tượng quán sát, thì nó cũng thành ra sở tri, thành ra thức cũng là sở tri. Ban đầu chúng ta nghĩ rằng: thức gồm có hai phần, là năng tri và sở tri. Nếu chúng ta đem hai phần này ra quan sát, thì cả năng, cả sở đều trở thành sở hết.

Tất cả sáu căn, sáu cảnh đều phát xuất từ a-lại-gia thức. Thức thứ sáu, thức thứ bảy, thức thứ tám. Thức thứ tám có một tên khác nữa là sở tri y. Nhưng trong Duy thức không có danh từ năng tri y. Tức là chủ thể nhận thức cũng từ nó mà phát sinh. Tại vì tất cả các pháp đều phát hiện từ a-lạI-gia. Trong Duy thức không nói tới danh từ năng y tri là tại vì các thầy không nói, không phải là nó không có, tất cả đều phát sinh từ thức thứ tám cả. Ví dụ như chúng ta thấy núi Pyrénées hay núi Alpes, nó là sở tri. Nó cũng phát sinh từ a-lại-gia, a-lại-gia cộng đồng của tất cả mọi người, tất cả mọi chúng sanh. Ví dụ tôi có hai tay và mỗi tay có năm ngón. Chúng ta có thể nói rằng hai tay của tôi và mười ngón tay của tôi đều phát xuất từ thân thể của tôi. Thân thể của tôi là sở tri y, hai cánh tay và mười ngón tay là sở tri. Tại vì hai cánh tay và mười ngón tay này phát xuất từ toàn thể thân thể. Toàn thể thân thể ở đây chúng ta ví dụ cho a-lại-gia thức. Khi bàn tay phải của tôi xoa trên bàn tay trái của tôi thì có sự xúc chạm giữa hai bàn tay, cũng như là sự xúc chạm giữa căn và cảnh. Căn sinh từ a-lại-gia, cảnh cũng sinh từ a-lại-gia. Rồi từ sự xúc chạm đó nó phát sinh ra thức, thức cũng từ a-lại-gia mà sinh. Vì vậy cho nên thức không những là năng tri y, mà thức cũng là sở tri y nữa.

Bây giờ (ví dụ) tôi đưa một bàn tay rờ thân tôi, cũng như là thức thứ bảy trở về để lấy thức thứ tám làm đối tượng. Thức thứ bảy phát sinh từ thức thứ tám và trở về ôm lấy thức thứ tám làm đối tượng, thức thứ tám cũng là sở tri. Thức thứ sáu cũng vậy, thức thứ sáu là sự suy nghĩ của chúng ta, sự suy luận của chúng ta. Chúng ta có thể suy nghĩ, suy luận về thức thứ tám và thức thứ sáu cũng có thể trở về được. Không những bàn tay trái trở về được, bàn tay phải cũng trở về được. Khi tôi đưa một ngón tay rờ vào gò má, cũng coi như thức thứ sáu trở về, nó tìm hiểu thức thứ tám. Bây giờ hai ngón tay với nhau, chúng ta nghĩ rằng chỉ có bàn tay trái mới có thể sờ mó được bàn tay phải. Nhưng kỳ thực trong một bàn tay, hai ngón tay có thể sờ mó nhau. Ngón tay này hỏi ngón tay kia anh là ai, ngón tay kia nếu chứng ngộ thì nói rằng: tôi là anh chứ ai nữa.

Tôi nhớ rằng trong một bài giảng, tôi nói rằng: Dị Tánh là ai? Nếu mà Dị Tánh khá thì nó sẽ nói: thưa Thầy, con là Thầy chứ còn ai nữa. Đó là cái nhìn thấu triệt về tính cách bất nhị của các thức, của các pháp, của tánh và tướng, của gốc rễ và hoa trái, gốc rễ và hoa trái là một. Khi một tờ lá nó nhìn vào bản thân, nó thấy rằng trong bản thân, nó có tất cả vũ trụ ở trong đó. Có mặt trời, có đám mây, có đại địa, có sức nóng, có hơi nước, đủ hết ở trong tờ lá. Tờ lá đó đạt tới cái thấy mà chúng ta gọi là vô ngã. Tức là một tờ lá chỉ được làm ra bởi những yếu tố không phải tờ lá. Nếu không có những yếu tố không lá thì không thể nào có tờ lá được. Những yếu tố không lá là mây, là nước, là đất, là hơi nóng… Chính nhờ những yếu tố không lá đó mà có tờ lá. Khi tờ lá đó thấy được như vậy, thì nó cũng thấy rằng: khi rơi xuống mặt đất thì nó cũng trở về nó mà thôi. Tại vì đất đã có trong lá và đất cũng có ngoài lá nữa. Cho nên đất đụng với đất là một thứ thôi.
 

Sắc tức là không, không tức là sắc

Trong nhận thức thông thường của chúng ta thì tất cả các pháp là hiện hữu, cái này ngoài cái kia. Ví dụ như đám mây hiện hữu ngoài cái lá, cái lá hiện hữu ngoài cái rễ, có thể phân biệt ra. Nhưng trong cái thấy của giác ngộ thì không như vậy, ý niệm về trong và ngoài như vậy là sai lầm. Hiện bây giờ các nhà khoa học về nguyên tử học, về các điện tử, họ thấy rõ ràng điều đó. Có một nhà khoa học điện tử rất nổi danh, ông ta nói rằng: một điện tử là do tất cả các điện tử khác làm ra. Không có thể nào chia cách cái một ra khỏi cái tất cả, cái một tức là cái tất cả. Tiếng nói của khoa học bây giờ từ từ đi tới tiếng nói của tuệ giác đạo Bụt. Những cái đứng trên phương diện hình thức ở ngoài nhau, nó chống nhau đi nữa, nó vẫn có thể là nhau như thường. Ví dụ như ý niệm về hạt và ý niệm về sóng. Trong đạo Bụt người ta đã nghiên cứu về nguyên tử, tức là những hạt rất là nhỏ của vật chất từ lâu rồi. Ngay từ khi Bụt còn tại thế, người ta đã nói tới danh từ nguyên tử, tuy rằng những ngôn từ để dùng không giống như bây giờ, nhưng ý niệm là ý niệm nguyên tử. Ngày xưa người ta dùng chữ bụi, chữ trần. Nhưng mà bụi có thể là quá lớn, cho nên họ mới dùng danh từ vi trần, tức là bụi rất là nhỏ. Vi tức là vi tế, là rất là nhỏ. Nhưng vi trần cũng vẫn to quá, cho nên trong đạo Bụt người ta đã đi đến một khái niệm là một đơn vị vật chất nhỏ nhất, gần với hư không gọi là lân hư trần. Khi tôi đọc chữ này tôi giật mình. Lân hư trần: lân tức là láng giềng, như là lân bang, hư tức là hư không, trần là hạt bụi. Tức là một hạt bụi, mà nó chỉ là láng giềng của hư không mà thôi. Tức là hạt bụi nhỏ cho đến nỗi, nó với hư không có thể lộn với nhau. Danh từ triết học đi tới chỗ đó thì quả thật là rất tinh vi.

Nếu đi tới nữa người ta thấy rõ ràng là hư trần, tức là không còn hạt bụi mà là hư không. Cái đó chúng ta thấy rất rõ trong kinh là: sắc tức thị không. Tức là vật chất chính là không gian, vật chất và không gian là một. Chữ sắc và chữ không là hai cái chống nhau lúc ban đầu, nhưng cuối cùng hai cái như nhau. Trong sự nghiên cứu về khoa học, ban đầu người ta tưởng một đơn vị vật chất nhỏ nhất là một cái hạt. Nhưng sau đó người ta nghiên cứu thấy rằng: điện tử đôi khi không có hiển hiện ra như một hạt, mà nó như là một đợt sóng. Trong những công trình khảo nghiệm của khoa học, người ta thấy rằng có khi điện tử phát hiện ra như là một đợt sóng, có khi nó phát hiện ra như là một cái hạt, điều đó rất là kỳ lạ. Chúng ta thường nghĩ rằng: cái gì là một cái thôi, vừa là một đợt sóng vừa là một cái hạt thì không thể được. Có thể nói là đứng trên phương diện nhận thức thông thường, một cái hạt nó hoàn toàn khác với một cái sóng. Nhưng trên sự thật, tất cả các nhà vật lý học nguyên tử bây giờ đều công nhận rằng: nguyên tử vừa là hạt mà đồng thời cũng vừa là sóng. Họ phải chấp nhận điều đó, họ không thể cãi được trên sự thực nghiệm nguyên tử. Hai cái mâu thuẫn nhau, chúng ta tưởng không có phối hợp được nhưng nó lại trở thành một sự thật. Vì vậy cho nên họ mới đặt ra một danh từ gọi là hạt sóng.

Bây giờ đây sắc không là một thực tại, sắc tức là không, không tức là sắc, là một thực tại. Vì vậy cho nên trên thế giới của thực tại, chúng ta nghĩ rằng cái này nằm ngoài cái kia là sai. Tất cả mọi cái đều nằm trong một cái và cái đó nó nằm trong tất cả mọi cái khác nữa, cái này là cái kia. Trong đời sống hàng ngày, chúng ta phải sống cho chánh niệm và chúng ta sẽ thấy được rằng: chúng ta là cái đó, cái đó là chúng ta. Khi thấy được như vậy thì vượt thoát được sanh tử, tức là chúng ta sẽ cười với cái chết của mình. Tại vì chúng ta thấy cái chết không phải là một hiện tượng có thật, nó chỉ là ảo ảnh, nó chỉ là một khái niệm mà thôi. Khi một tờ lá rơi xuống đất, nếu tờ lá đó có tuệ giác như vậy, thì tờ lá đó không có buồn rầu gì hết, nó nhảy múa trong hư không để trở về với đất. Sự giác ngộ, sự giải thoát, sự tiêu diệt của sợ và lo phiền là chuyện chúng ta có thể thực hiện được, nếu chúng ta biết quán sát. Các nhà khoa học vật lý nguyên tử bây giờ đã biết rằng: trên lý thuyết cái này là cái kia, một là do tất cả các cái nhiều làm thành.

Vậy khi bàn tay này rờ vào thân thể, nó biết rằng: nó với thân thể này là một, nó phát xuất từ thân thể này. Nhưng nó không nói rằng: thân thể này là của tôi, là riêng của tôi, bàn tay này là một thực thể khác. Tại vì nó đã thấy rằng: không những thân thể này với nó là một, mà bàn tay kia với nó cũng là một nữa. Đó là ý nghĩa của cộng biến, cái này và cái kia. Ví dụ như đỉnh núi đẹp có tuyết rơi, không phải của một người, không phải là thế giới của một người, thế giới của tất cả mọi người, đó là tâm thức cộng đồng phát hiện. Chúng ta là những người leo núi, là hai ngón tay đang trở về mơn man gò má của mình, chỉ như vậy thôi.
 

Năm tâm sở biệt cảnh

Chúng ta đã học năm tâm sở đầu gọi là biến hành, tức là: xúc, tác ý, thọ, tưởng và tư. Có năm tâm sở này hợp tác với tám thức, cho nên gọi là biến hành. Còn năm tâm sở chúng ta học bây giờ là biệt cảnh. Tức là nó chỉ phát hiện trong một số các thức mà thôi: dục, thắng giải, niệm, định, tuệ. Dục có nghĩa là muốn, cái muốn này ở nơi mỗi thức nó khác nhau. Ví dụ như khi con mắt thấy được một hình dáng mát mẻ, có hòa điệu thì con mắt muốn nhìn tiếp, muốn hướng về cái đó là dục. Đến khi thức thứ sáu được phát hiện bởi tâm sở dục, thì tính chất của dục mạnh mẽ hơn, sâu sắc hơn, tùy theo các thức. Thắng giải là hiểu, tức là hiểu được, nhận được ra là cái gì. Chữ niệm này tức là duy trì đối tượng đó trong chúng ta, trong giây phút hiện tại. Chữ niệm () này rất hay, vì nó gồm có hai phần: phần ở dưới là tâm, phần trên là giây phút hiện tại, tức là trong giây phút hiện tại. Định là chúng ta dồn tất cả tâm lực vào chỗ đó, để vào chưa đủ, dồn vào đó và định tức là kết quả của niệm. Tuệ tức là một kết luận của tri thức, chúng ta nghĩ là chúng ta biết chắc cái đó là đúng. Năm tâm sở biệt cảnh này có hợp tác với năm thức đầu và cố nhiên là hợp tác với thức thứ sáu. Năm thức này có tất cả là ba mươi bốn tâm sở, trong đó có năm tâm sở biến hành, năm tâm sở biệt cảnh.

Chúng ta có thể nói dục là ý muốn của mình. Còn thắng giải là một quyết định để hiểu, để đưa nó trở thành đối tượng của nhận thức. Thức thứ bảy này chỉ có năm tâm sở biến hành thôi. Đối với năm tâm sở biệt cảnh nó chỉ cộng tác với anh chàng cuối cùng là tuệ. Tuệ tức là cái thấy, cái biết mà chúng ta chắc là đúng. Nhưng tuệ của thức thứ bảy là một cái tuệ sai lầm. Tại vì nó có khuynh hướng cho rằng: cái lá này không phải là những cái lá khác, lá này có sanh có tử, có một hiện tượng, có một cá thể biệt lập đối với những cái lá khác và những hiện tượng khác. Thì cái mạt na thức của con người cũng vậy. Thức thứ bảy chắc rằng thân thể này là riêng biệt, tâm hồn này là riêng biệt, không có dính líu gì tới những hiện tượng khác và có sanh, diệt của riêng nó. Đó là một thứ tuệ, nhưng một thứ tuệ sai lầm. Tại vì tuệ có chánh tuệ và tà tuệ. Định cũng vậy, niệm cũng vậy, như quý vị đã học ở trong Bát chánh đạo.
 

Ý niệm về thọ

Các tâm sở có tới năm mươi mốt thứ, từ từ chúng ta sẽ đi thăm tất cả những tâm sở đó. Bây giờ chúng ta học đến ý niệm về thọ. Lâu nay quý vị mới nghe tới ba thọ thôi, tức là lạc thọ, khổ thọ và xả thọ. Nhưng trong Duy thức học có dạy tới năm thọ là: khổ thọ, lạc thọ, ưu thọ, hỷ thọ và xả thọ. Ưu có nghĩa là lo lắng và hỷ có nghĩa là mừng vui. Trong năm mươi mốt tâm sở chúng ta không thấy tâm sở ưu và tâm sở hỷ. Chúng ta có thể nói là: tại sao các thầy không liệt kê những cái đó ra. Nhưng kỳ thực ưu và hỷ có nằm trong thọ. Nếu chúng ta học về năm thọ thì chúng ta biết rằng: không cần liệt kê hai tâm sở đó ra riêng. Đối với thức thứ tám, năm tâm sở biến hành, thì tâm sở thọ của thức thứ tám chỉ là xã thọ thôi. Thức thứ tám không có bốn thọ trên. Năm thức đầu có ba thọ thôi, tức là khổ, lạc và xả. Thức thứ sáu có đủ cả năm thọ, tại vì buồn, mừng, vui, giận, ghét là anh chàng thức thứ sáu có đủ hết. Thức thứ sáu có tới năm mươi mốt tâm sở. Thức thứ bảy có mười tám tâm sở. Chúng ta học năm biến hành và bốn ngã là: ngã si, ngã kiến, ngã mạn, ngã ái. Tất cả là chín, còn thêm thức tuệ nữa là mười, bây giờ chúng ta học mười tâm sở rồi. Thức thứ bảy có đủ cả năm tâm sở, nhưng thọ của thức thứ bảy không có giống thọ thức thứ sáu. Thức thứ tám chỉ có năm tâm sở thôi, tức là năm tâm sở biến hành. Thức thứ tám chỉ có xả thọ, tương ưng duy xả thọ. Những thứ này thuộc về tư liệu, nếu học nhiều quá thì chúng ta sẽ chán, mà không có tư liệu thì không làm việc được, thành ra mỗi lần chúng ta học thêm một chút.
 

Ý niệm về xứ

Trước đây chúng ta nghe đủ về năm thọ rồi, bây giờ chúng ta học tới ý niệm về xứ. Hữu phú có nghĩa bị u mê, bị một cái màn phủ lên tức là phú. Phú tức là che lại. Đứng về phương diện tánh, tức là theo nature thì có ba loại tánh, gọi là thiện, ác và vô ký. Chữ thiện, ác và vô ký ở đây, chúng ta để nặng về phương diện giác ngộ hơn là phương diện luân lý. Thành ra tất cả những gì có lợi ích cho sự giác ngộ, cho hạnh phúc thì gọi là thiện. Những gì có tính cách phá hoại sự giác ngộ, phá hoại hạnh phúc thì gọi là ác. Và những cái gì không phải thiện, không phải ác, nó vô thưởng vô phạt gọi là vô ký - avyakrita. Thức thứ tám là một thức vô ký, nó không có thiện cũng không có ác. Chính vì nhờ tính cách vô ký của nó, nó tiếp nhận được tất cả các pháp, dầu là thiện, dầu là ác hay là vô ký. Nó là đối tượng của sự huân tập. Nếu nó hoặc là thiện hoặc là ác hoàn toàn, thì làm sao nó tiếp nhận được những chủng tử không đồng tính chất với nó. Thức thứ tám là vô ký, nhưng thức thứ tám không bị một nhận thức sai lầm, vì vậy cho nên thức thứ tám này là vô phú vô ký.

Chúng ta đi tới thức thứ bảy là hữu phú nhưng nó cũng là vô ký, vì vậy nó là hữu phú vô ký. Còn năm thức đầu có đủ thiện, ác và vô ký: tam tánh, tam lượng thâm tam cảnh (1). Và thức thứ sáu cũng vậy, là nó có đủ thiện ác và vô ký. Chúng ta nên nhớ rằng: thức thứ bảy tuy rằng là hữu phú nhưng mà nó là vô ký. Là tại vì sao vậy? Tại vì nó như là một tổng thể của những nghiệp nhân gây ra bởi sáu thức trước. Nếu mà nó nặng nề, nó đen tối nhiều là do anh chàng thứ sáu và năm anh chàng đầu. Nếu sau này nó nhẹ nhàng, nó trong sáng hơn lên thì cũng do anh chàng thứ sáu và năm anh chàng đầu. Nó gần như là cái quả nhiều hơn là cái nhân. Luân hồi, sanh tử, khổ đau là do nó làm chủ. Chính vì thức thứ sáu và năm thức đầu quyết định giá trị của thức thứ bảy, là nó bị che lấp nhiều hay là bị che lấp ít. Cho nên tánh của nó có thể thay đổi. Nó vô ký, nhưng nó là hữu phú vô ký. Trong khi thức thứ tám là vô phú vô ký. Vì vậy cho nên sự tu tập bắt đầu từ thức thứ sáu. Nó chuyển đổi những khuynh hướng vô minh ở trong a-lại-gia thức, để làm cho thức thứ bảy trong trắng ra, nó thoát ra, nó nhẹ ra. Tại vì những chủng tử càng nặng nề, càng đen tối bao nhiêu thì thức thứ bảy càng đen tối bấy nhiêu.

Thức thứ tám là vô phú và vô ký. Năm tâm sở của nó là: xúc, tác ý, thọ, tưởng, tư. Nó cũng là vô phú vô ký cho nên thọ của nó cũng là sáu thọ. Những gì chúng ta nghe, chúng ta thấy đều rơi vào từ hai thức nhãn và nhĩ. Đi qua thức thứ bảy và rơi vào trong thức thứ tám như là những hạt giống. Và những hạt giống đó được phát hiện ra không những bởi thức thứ sáu, mà còn là thức thứ bảy nữa. Thức thứ sáu có hai tâm sở gọi là tầm và từ. Tầm có nghĩa là tìm kiếm và từ nó có nghĩa là khảo sát, nghiên cứu, tư duy, suy tư. Chữ này đọc là tư cũng được, nhưng nếu đọc là tư thì nó lộn với tâm sở thứ năm của biến hành. Thành ra chúng ta nên đọc là từ hơn là tư. Cũng như chữ hạnh đọc là hành cũng được.
 

Bất khả tư, bất khả nghị

Ví dụ như chúng ta gặp một ông đó mười năm về trước và được giới thiệu tên cùng chức nghiệp của ông ta. Thì tên, hình dáng, chức nghiệp của ông ta được rơi vào trong a-lại-gia thức của chúng ta và làm thành những chủng tử. Nhưng trong vòng mười năm liên tiếp chúng ta không gặp ông ta nữa, những chủng tử về ông đó yếu dần đi. Tại vì vạn vật ở trong a-lại-gia thức chịu luật nhân quả và luật cạnh tranh, sinh tồn. Nó cũng có thật ở trong a-lại-gia chúng ta như là trong một mảnh vườn vậy. Nếu chúng ta trồng cà chua mà không chăm sóc, thì một hồi cỏ sẽ lấn áp hết. Trong a-lại-gia thức của chúng ta cũng vậy, nếu chúng ta muốn nhớ một cái gì, chúng ta muốn chủng tử nào mạnh thì chúng ta phải cho nó hiện hành trở lên, sau đó để cho nó rơi xuống, nó sẽ mạnh trở lại. Đó là phương pháp quán niệm.

Chiều hôm qua mình đi ngoài phố, mình gặp ông đó và biết rất rõ. Mình chắc là đã biết ông đó, đã biết tên, đã được giới thiệu rồi. Mình hơi ngờ ngợ một chút, nhưng mình cúi đầu chào rồi bỏ đi. Bắt đầu từ lúc đó mình muốn lục lọi để tìm ra tên của ông đó. Tại vì mình có linh tính, có cảm tưởng, có cái tuệ là mình biết ông đó rồi. Và như vậy thức thứ sáu bắt đầu công tác tầm của nó. Nó đi tìm kiếm ở đâu ? Cũng như các nhà học giả vô thư viện tìm sách vở. Thức thứ sáu đi vào trong thức thứ tám để tìm ra hạt giống đã bị chôn vùi bởi những hạt giống khác ở trong chủng tử. Có khi hơi bực mình, tại vì tên của ông ta mình đã biết rõ khi xưa như vậy mà bây giờ tìm không ra. Và cái bực mình đó làm cho ý thức của mình có thêm năng lượng để tầm, từ. Nó hoạt động rất nhiều trong a-lại-gia của mình. Tới buổi cơm chiều mình vẫn chưa tìm ra được và vẫn còn tức, thành ra mình vẫn tiếp tục tìm ở trong tâm thức. Khi ăn cơm chiều xong, ngồi uống trà mà mình vẫn nghĩ tới, cái tên đó mà mình quên thì tức quá. Đó là tầmtừ vẫn tiếp tục làm việc. Đến lúc gần đi ngủ mình thấy rằng nguy quá, nếu mình cứ tiếp tục như vậy thì tối nay chắc mất ngủ. Nếu mình không ngưng sự tìm kiếm lại thì mình sẽ mất ngủ vì nó. Vì vậy mình mới tìm một phương pháp để làm cho ngưng cái tầm đi. Ngày xưa tôi có kiểu đó nhiều lắm và từ đó tôi có kinh nghiệm. Một trong những cách đó là đi tìm một cuốn sách hấp dẫn để đọc. Ví dụ như sách Tiếu ngạo giang hồ hay là một bản nhạc rất hay, mà mỗi khi nghe lên thì mình quên hết tất cả. Mình nghe xong bản nhạc đó, hay là đọc cuốn sách đó thì mình có những chủng tử mà mình thích thú. Bởi vì trong đời, mình phải có những cái thích thú, để khi nào cần mình sẽ đem ra thay thế cho những cái làm mình đau khổ. Đừng cho nó hiện hành hoài trên óc mình. Mình nghe xong cái bản nhạc đó, mình đọc xong sách đó thì cái tầm của mình bắt đầu không sử dụng tới nữa. Như vậy khi mình vô ngủ, mình ngủ ngon và trong giấc mơ mình không thấy ông đó nữa. Ấy vậy mà buổi sáng, trong khi mình không nghĩ gì tới ông ta, mình đang đánh răng, tự nhiên tên của ông ta nhảy phóc ra ở trên ý thức của mình. Nó nhảy phóc ra như vậy mà mình không có tầm, không có từ gì hết. Có nghĩa là cái ý thức trong khi mình ngủ không làm việc nữa, nhưng cái thông điệp của nó gởi cho thức thứ tám đã được ghi nhận. Tức là “cái máy điện toán” đã nhận được lệnh của mình rồi và trong đêm nó tiếp tục tìm, đó là công trình của thức thứ bảy và thức thứ tám. Trong tâm lý học Tây phương nói tới tiềm thức hay là vô thức là cái đó. Tức là trong khi mình ngủ, dầu mình không có mộng đi nữa, nó vẫn có một động lực gì đó tiếp tục tìm kiếm trong khi mình ngủ. Và khi mình thức dậy đánh răng, nó cống hiến công trình tìm kiếm của mình, làm mình cũng phải ngạc nhiên. Như vậy có nghĩa là khi ý thức đưa chủng tử của tâm sở tầm vào trong đó mà khuấy động mạnh, thì cái đà khuấy động của tầm vẫn còn. Dầu ý thức ngưng làm việc, nhưng ở bên dưới nó vẫn tiếp tục làm việc.

Vì vậy cho nên vấn đề học, hiểu, giác ngộ không phải chỉ là vấn đề của thức thứ sáu, nó còn là vấn đề của thức thứ tám. Thức thứ tám đóng một vai trò rất quan trọng trong việc đem sự giác ngộ tới cho chúng ta. Đôi khi chúng ta không biết nó làm, nhưng chúng ta phải ký thác cho nó công việc đó. Ví dụ như ở trong thiền, đôi khi thầy giao cho mình một công án, công án tức là một vấn đề để mình đi tìm. Ví dụ như thầy nói rằng: này con, con hãy nói cho thầy biết mặt mũi của con như thế nào trước khi má con được sanh ra. Khi má mình chưa sanh ra thì làm sao mình biết được mặt mũi của mình. Nhưng câu nói đó tức là một chủ đề, để mình đem ươm vào trong đất đai của a-lại-gia thức. Nếu mình ươm hạt giống cho đàng hoàng và mình tưới cho đàng hoàng, thì một ngày kia a-lại-gia thức sẽ trình bày cho sự giác ngộ: mặt mũi của mình trước khi má mình sanh ra. Không phải sanh ra mình, má mình được sanh ra như thế nào. Thì câu nói: anh là ai, cũng là một câu nói đáng cho chúng ta để ý. Ví dụ như thầy hỏi Diệu Chánh: con là ai? Nếu nhận được ra ba chữ đó như là một công án, thì thiền sinh rất là giỏi. Nếu thức của thiền sinh đã chín rồi, thì sẽ trả lời: thưa thầy, con là thầy. Nói rất tự nhiên, không phải là do suy luận triết học. Nhưng nếu chưa chín thì phải đem công án đó về gieo vào trong miếng đất của a-lại-gia thức. Và mỗi ngày, mỗi giờ, mỗi phút phải chăm sóc, phải vun bón bằng chánh niệm. Tại vì trong ban đêm khi mình ngủ, ý thức vẫn làm việc. Một ngày nào đó khi mình đang cuốc đất, hay mình đang nhổ cỏ, tự nhiên nó trình bày ra. Mình mừng quá, bỏ cuốc chạy vào thưa thầy. Mình nói với thầy một câu và thầy nói: được rồi. Rồi thầy sẽ pha trà để mời mình uống, đó là một việc rất là đẹp.

Hồi nhỏ khi tôi bốn năm tuổi, có khi tôi chơi một mình trước sân và trước sân có một cái lu đựng nước mưa. Có một bữa phải nhóm lên, tại vì tôi còn thấp lắm, nhóm lên để nhìn vào trong lu nước mưa. Ban đầu chỉ muốn nhìn mặt của mình chơi thôi. Nhưng khi nhìn thì thấy có một cái lá màu vàng đỏ, thật là đẹp, nó nằm ở dưới đáy lu. Tôi mới nói rằng: mình đem cái tờ lá này ra, mình chơi. Tôi thọc tất cả cánh tay mình vô. Nhưng tôi là một chú bé nhỏ xíu, nước tới mặt rồi mà cái lá vẫn còn sâu ở dưới đó, thành ra tôi mới đi kiếm một chiếc que để khèo nó lên. Nhưng mình nhỏ quá mà cái lu lại lớn quá, mình thọc thọc như vậy rất là khó, nếu mình là người lớn thì nó sẽ dễ hơn. Thọc một hồi không được, tức quá, tôi mới quấy nó. Tại vì mình là con nít mà, mình quấy như thế này hy vọng. Nhưng mà quấy năm lần, mười lần, hai mươi lần cũng không thành công. Tức quá phải bỏ cuộc, mới liệng cái nhành cây đó và đi ra chơi chỗ khác. Đi ra chơi chỗ khác thì quên được chuyện đó thôi, đến khi đi vô thì thấy rằng cái lá đó trồi lên trên mặt nước, mình chỉ lấy tay thộp một cái là có tờ lá để chơi. Nó có nghĩa là trong khi tôi bỏ ra ngoài chơi thì nước trong lu vẫn tiếp tục xoay, tại vì trước khi đó mình đã xoáy. Và tác động xoáy vẫn tiếp tục khi mình vắng mặt, vì vậy nên khi mình trở vô thì nó đã đưa cái lá lên trên mặt nước. Tôi đi vô kịp và thộp lấy cái lá. Đó là công tác của lu nước, không phải là công tác của cánh tay. Chuyện tu tập cũng vậy, nó khởi sự bằng thức thứ sáu, quán sát, tu tập tưới tẫm. Nhưng chúng ta phải biết ủy thác cho thức thứ tám làm việc, tại vì thức thứ tám bất khả tư nghị. Phương pháp làm việc của thức thứ tám là bất khả tư, bất khả nghị. Bất khả tư tức là không thể nào suy nghĩ được. Bất khả nghị là không thể nói được, không thể diễn tả bằng lời nói, bằng ý niệm được.

Ngày xưa cách đây độ chừng ba chục năm, tôi có viết một truyện gọi là: Cửa tùng đôi cánh gài. Rồi tôi để bên dưới một câu là: bất tư nghị huân, bất tư nghị biến. Thì phần lớn độc giả không hiểu cái đó là cái gì. Trên đề cái tựa của truyện là Cửa tùng đôi cánh gài, rồi ở dưới thì để bất tư nghị huân, bất tư nghị biến, sau đó mới bắt đầu nói chuyện về chàng dũng sĩ. Câu chuyện đó nếu quý vị đọc rồi thì quý vị hiểu liền. Nhưng nếu chưa đọc thì đại khái câu chuyện là: Có một đạo sĩ tu học với một ông thầy ở trên núi, nhưng nghề thầy dạy là múa gươm. Anh ta có rất nhiều thiện chí, rất nhiều năng lực muốn độ đời. Một ngày nào đó anh ta nghĩ rằng: anh ta sẽ xuống núi để cứu độ đời. Trong thâm tâm ông thầy nghĩ là đệ tử mình chưa chín lắm, nhưng vì người học trò muốn quá, thành ra ông phải chiều lòng cho xuống núi. Và ông cũng nghĩ như anh Hoàng vậy, tức là trong cuộc đời cũng có thể học được, không phải chỉ riêng ở trên núi thôi. Nhưng để cho chắc ăn, ông kêu người đệ tử vào và trao cho một bảo vật là một cái kiếng, gọi là kiếng chiếu yêu. Cái kiếng đó sẽ giúp cho người đệ tử khi xuống núi sẽ phân biệt được cái này là cái này, cái kia là cái kia. Không có lộn xộn: chánh là chánh, tà là tà, buồn là buồn, vui là vui, người là người, vật là vật. Đó tức là phương pháp chánh niệm. Khi mình buồn, mình biết là mình buồn. Khi mình vui, mình biết là mình vui. Khi mình có tham, mình biết là có tham. Đó là một tấm gương để phản chiếu trong đời sống hàng ngày của mình, để cho anh chàng đệ tử đó xuống núi thực tập.

Trong những năm đầu anh chàng đệ tử đó có sử dụng cái tấm kiếng đó, nhưng từ từ anh sử dụng ít đi. Có một lúc anh ta thấy không thích sử dụng nữa, nhưng anh ta vẫn tin tưởng rằng mình đi trên con đường chánh đạo, mình đang cứu người và độ đời. Thanh gươm của anh chỉ có thể diệt trừ những loại tà và bênh vực những loại chánh mà thôi. Cái kiếng chiếu yêu anh ta không có xài, cho đến một ngày đó anh ta nhớ sư phụ, anh ta về thăm. Khi về tới núi thì thấy hai cánh cửa tùng bị gài lại. Cho dù anh ta có dùng sức thần thông và thanh bảo kiếm chặt, cánh cửa tùng vẫn không lay chuyển. Anh ta rất lấy làm lạ. Nói tại sao ngày xưa sư phụ mở cửa núi cho người ta lên, mà bây giờ sư phụ lại đóng lại như vậy, lại dùng phép thần thông mà đóng nữa. Anh ta phải ngủ ở dưới chân núi và đợi cho đến ngày mai. Tại vì anh ta biết rằng: người sư đệ của mình thế nào cũng xuống núi để múc nước, rồi sư đệ sẽ mở cửa cho mình. Khi nghe tiếng sột soạt của lá khô, anh ta nhỏm dậy, thấy người sư đệ đang ôm vò nước đi xuống. Người sư đệ đâu có mở gì đâu, chỉ giơ tay đẩy một cái là cái cửa đã mở ra. Anh ta mới nói rằng: không biết tại sao thầy lại cho đặt cái cửa này, làm ngu huynh phải ngủ cả đêm ở dưới này, và tại sao hiền đệ lại mở dễ như vậy. Nhưng cái mừng giữa hai anh em khi gặp nhau làm cho anh ta không có nghĩ tới chuyện đó nhiều. Người sư đệ nói rằng: tại vì lâu nay bao nhiêu người lên núi mà không có thiện chí tu học, thành ra sư phụ đóng cửa lại. Nhất là những người có tà tâm, tới để do thám, hay là quân địch gì đó, thành ra sư phụ cho cái pháp thuật vào đôi cánh cửa tùng này. Những người nào không có thiện tâm, dầu có làm cách nào cũng không mở được, còn những người có thiện tâm, đi tới là cái cửa này tự động mở ra. Anh chàng dũng sĩ rất lấy làm lạ, mình mà không có thiện tâm sao, mình là đệ tử ruột của thầy mình mà, mình đã đi hành đạo biết bao nhiêu năm rồi. Nhưng anh ta vì mừng sắp được gặp thầy, gặp bạn, thành thử không băn khuân lắm. Anh ta mới theo người sư đệ xuống suối để múc nước. Sau đó cùng đi lên, khi tới trước mặt suối thấy cảnh tượng đẹp quá, lúc đó mặt trời đã bắt đầu lên và có ánh hồng chiếu ở trên mặt nước. Hai anh em thấy hình của hai anh em phản chiếu trên mặt nước rất là đẹp. Anh chàng này cũng có tính nghệ sĩ, vì vậy anh chưa múc nước vội, anh nói: bây giờ nếu mà múc nước thì cái hình ảnh hai anh em mình sẽ tan biến, mình để ngắm chút đi. Này sư huynh, sư huynh còn giữ cái kính chiếu yêu không, mình đem ra mình chiếu cho vui.

Vì lâu ngày không xài, anh ta đem kinh chiếu yêu lau bụi đi. Khi đem kính ra chiếu thì thấy bên cạnh người sư đệ tươi vui thanh thoát nhẹ nhàng, có một con quỷ mọc nanh ra đang đứng. Tức là người sư huynh đã biến thành quỷ mọc nanh rồi mà không biết, vì trong bao nhiêu năm qua không sử dụng chánh niệm qua cái kính chiếu yêu. Khi khám ra sự thật đau lòng đó, người sư huynh hét lên một tiếng và ngã ra bất tỉnh, vì không chịu được một sự thật phủ phàng như vậy. Nên nhớ là tôi viết truyện ngắn này vào năm 1959 hay là 1960, tôi đã rất có ý thức về chuyện tu đạo. Mình có thể biến thành quỷ mọc nanh rất dễ dàng, nếu mình không có kính chiếu yêu đó để soi từng hoạt động, từng tư tưởng, từng tình cảm của mình trong đời sống hàng ngày. Hồi đó tôi còn trẻ, thành ra tôi muốn chấm dứt câu chuyện một cách rất là mạnh. Tôi nói rằng: người sư đệ múc nước suối khỏa vào mặt người anh của mình và khi người anh tỉnh thì người anh không còn khiếp sợ nữa. Tại vì sự khám phá đó làm cho anh ta không còn tin tưởng gì nữa, rất đau khổ và không còn muốn lên để gặp sư phụ, vì quá xấu hổ. Câu chuyện chấm dứt ở đó, tại vì ngày xưa tôi không muốn viết những điều có tác động cho độc giả. Nhưng sau đó ở trong lòng có từ bi, nói rằng nếu mình viết như vậy thì tội nghiệp cho đọc giả của mình quá, thành ra tôi mới thêm cái gọi là tái bút. Tôi nói: tôi muốn chấm dứt câu chuyện ở đây, nhưng sau đó nghĩ lại, tôi thấy chúng ta có thể thêm vào một đoạn như thế này nữa... Đó là do lòng từ bi của mình mà ra hết, tại vì đọc xong chuyện này gợi cho người ta có sự suy nghĩ, người ta có buồn. Chuyện như vậy thì không có hậu lắm. Người đọc không có cái lạc thọ sau này, thành ra tôi thêm khúc sau. Trong đó tôi nói rằng: người sư đệ mới năng nỉ người sư huynh lên thăm thầy, anh cứ lên đi thế nào thầy cũng tha lỗi, cái này vấn đề là lỗi của tất cả chúng ta chứ không phải lỗi của một mình anh mà thôi, thì anh lên đi chúng ta sẽ đi nấu cơm, chúng ta sẽ trồng tía tô như những năm xưa, anh em mình sẽ ở bên thầy, mình sẽ đào tạo lại, phục hồi lại những cái mà chúng ta đã làm mất. Người sư đệ nói một cách rất là dịu dàng, và cuối cùng thì chàng dũng sĩ đồng ý theo người sư đệ đi lên. Và tôi chấm dứt bằng cảnh tượng: anh chàng sư huynh đó hết sức, đi phải nương vào vai người sư đệ và hai người bước từng bước lên trên núi, trong khi mặt trời vừa nhô khỏi đỉnh núi xanh. Đây là câu chuyện mà đài phát thanh Sài Gòn hồi đó đã diễn thành kịch.

Tôi đề: bất tương nghị huân, bất tương nghị biến, là như vậy. Tức là nó huân vào một cách mình không thể nghĩ được, vậy mà nó vẫn huân. Nó huân tập vào một cách rất là mầu nhiệm mà mình không thể ngờ được. Tôi có nghe nói rằng: có một cô người ở làm việc cho một nhà trí thức, nhà trí thức nói toàn những tiếng như tiếng La tinh thôi. Không biết tại sao có một bữa đó, cô người ở bị bệnh và trong giấc mơ cô đọc ra một tràng toàn tiếng La tinh. Như vậy là trong khi cô nấu trà, nấu canh, nướng bánh mì cho nhà học giả thì tâm thức của cô đã huân vào những tràng chữ La tinh đó một cách rất là mầu nhiệm, một cách rất là bất khả tư bất khả nghị. Vì vậy cho nên khi nó huân vào mà bất khả tư bất khả nghị, thì đến khi biến ra, nó cũng biến một cách bất khả tư bất khả nghị.

Câu chuyện chàng dũng sĩ khám phá ra mình là một quái vật có nanh là bất tư nghị, bất tư nghị. Cả thầy, cả sư đệ và cả chính chàng đều không ngờ rằng, nó ra nông nỗi như vậy. Thành ra huân và biến phải nằm trong con đường tu tập của chúng ta, tức là chúng ta phải có cái kính chiếu yêu. Kính chiếu yêu đó tức là chánh niệm trong đời sống hàng ngày. Nếu không thì chúng ta có thể trở nên một phạm nhân, có thể tàn phá hạnh phúc của chúng ta và có thể tàn phá hạnh phúc của người khác, của chính người mình thương.
 

Phóng chiếu

Thức thứ bảy mang nặng tất cả những ước muốn, những giận hờn, những thất bại của chúng ta. Cho nên trong ban đêm nó thường xúi dục thức thứ sáu phát hiện ra những cái đó, để cho nó được nhẹ lòng. Tại vì ban ngày thì khác: xã hội khe khắc, luật pháp khe khắc, dư luận khe khắc, thành ra ý thức phải đi vào khuôn khổ. Cho nên có sự dồn nén của thức thứ bảy bởi thức thứ sáu. Luật pháp, lễ giáo, lễ nghi, sự khắc khe của xã hội làm cho những buồn giận, những ao ước, những dục vọng của thức thứ bảy không biểu hiện được. Trong đời sống hàng ngày, ý thức tiếp xúc với đời sống thực tại và vì vậy nó nói rằng: Những cái đó không được đâu, cất đi cất đi và nó liên tục đè thức thứ bảy, nó đè những cái ẩn ức. Thành ra có hiện tượng gọi là bị đè nén. Ví dụ như trong người của chúng ta có một sinh lực gọi là năng lực sinh lý, nó muốn thỏa mãn những nhu yếu sinh lý của mình. Thế nhưng luật pháp cho rằng chúng ta không được phép liên hệ với một người đàn bà, hay một người đàn ông không phải là vợ hay là chồng của mình. Trong khi đó có những người mà năng lực sinh lý rất mạnh, vì vậy sự dồn nén đó tạo ra những vấn đề ở trong cơ thể và ở trong tâm thức của họ. Nhất là không nói ra được, không diễn tả ra được. Nói ra được là tôi muốn cái đó thì cũng đỡ, nhưng không thể nói được, tại vì nói ra người ta sẽ chê cười. Trong ngôn ngữ của những người có học thức, có giáo dục thì những danh từ hay là những chữ mà chúng ta gọi là chữ dơ và không được dùng. Ví dụ như chữ đi ỉa thì người ta nói là đi cầu hay là đi gì đó… Những danh từ để dùng chỉ bộ phận sinh dục cũng không được dùng, phải dùng một danh từ khác. Cái đó là do sự khôn ngoan của thức thứ sáu. Nó là văn minh, nhưng văn minh cũng có cái mặt tác hại của nó.

Trong xã hội Việt Nam ngày xưa, chúng ta theo Khổng Mạnh nên chuyện đó rất rõ: một người đàn bà trinh tiết là không để cho người đàn ông đụng tới được. Có một cô thiếu nữ đó ở bên Tàu, cô thấy ông kia đói quá, mà đó là một nhà chí sĩ thành ra cô phải hy sinh, cô dâng nắm cơm của cô cho nhà chí sĩ đó ăn để sống. Sau đó cô nhảy xuống sông tự tử, tại vì cô đã làm một việc mà lễ giáo không cho phép, coi như là trái với lễ giáo. Đó là một quan niệm luân lý của Khổng giáo, rất là sai lầm, rất là gò bó. Nhưng có những giai đoạn người ta thấy cái đó là đúng, đó là tâm thức cộng đồng. Cho nên khi thấy mình làm một điều sai, nhưng nó theo uớc muốn chân thực của mình, thì mình phải trả cái giá cho cái điều sai đó. Những lúc nào không đụng chạm đến xã hội, mình tìm cách diễn tả ra cho nó nhẹ bớt hiện tượng đé nén đó, nó sẽ không còn tác hại nữa.

“Con phải bỏ nhà con đi”, câu nói đó làm cho chấn động hết tất cả mọi người. Đừng nói là: tại vì bất hiếu nên nó đi. Có thể vì không khí ở trong gia đình không phù hợp cho sự sinh trưởng của nó, và nó đã chịu sự ẩn ức đè nén lâu rồi. Khi còn trong bụng mẹ thì em bé với mẹ là một, trong cái thực thể bất nhị, hồn nhiên. Khi em bé ra đời và cắt dây nhau rồi thì em bé bắt đầu thành một người khác. Nhưng nó chỉ mới bắt đầu thôi. Khi em ôm lấy mẹ, em nút vú của mẹ, em cũng không biết rằng mình đang nút vú của một người khác, tưởng cái vú đó là mình, nó rất là tự nhiên. Thành ra em vẫn tiếp tục sống trong một trạng thái gọi là bất nhị, một cách hồn nhiên. Rồi từ từ bà mẹ không có đó khi em khát, em đói. Từ từ em mới thấy thiếu, rồi em mới có một ý thức tượng ra từ từ, là mẹ với mình là hai thực thể. Lúc đó cái thực tại bất nhị bị tan biến và em bé bắt đầu có đau khổ. Đau khổ vì thấy rằng mình và người kia là hai. Khi lớn lên, em bé phải vượt qua những khó khăn đó. Lúc em bé ba bốn tuổi, người mẹ đâu để ý tới những cái đó nơi em bé, cho nên tạo ra những lỗi lầm rất lớn đối với em bé. Thành ra các bà mẹ tương lai phải học, phải biết rằng tất cả những cái mình sống, mình làm, mình nói trong hàng ngày là có ảnh hưởng rất sâu đậm tới em bé. Nó có hiện tượng gọi là phóng chiếu. Trong tâm lý học bây giờ nói là: khi sự tách rời giữa mình và mẹ, hay là người yêu của mình, hay là bất cứ một cái gì mà mình ưa thích mà mình cần nó xảy ra, thì nó có một sự khủng hoảng đang thành hình. Có thể vượt qua khủng hoảng đó hay là không, nếu vượt qua được thì chúng ta gọi là lành mạnh. Con cái lúc còn bé một phần coi cha mẹ như là trời thần, tại vì khóc một cái là mẹ tới, đòi một cái là mẹ cho, những lúc đau khổ là mẹ làm cho bớt đau khổ. Vì vậy đứa bé nhìn cha mẹ như là gương mẫu của nó. Trong tâm ý, nó muốn bây giờ nó là cha mẹ. Khi một em bé chơi búp bê, đó là nó muốn làm mẹ, đó là một sự gọi là phóng chiếu vào trong. Mình muốn là cha là mẹ và đồng thời mình cũng có phóng chiếu ra ngoài, tức là mình muốn rằng cha mình mẹ mình phải là thế này, là thế khác để cho nó thích hợp với hạnh phúc của mình.

Ví dụ như khi chúng ta thất vọng về chuyện học y khoa để thành bác sĩ, chúng ta muốn con mình tiếp tục làm chuyện đó cho mình, nếu nó không làm được thì mình giận nó. Nhưng mình không biết rằng, con mình là một thực thể khác biệt, đôi khi nó không ưa học y khoa, nó chỉ ưa học nhạc mà thôi. Khi nhìn nơi con mình, mình muốn ký thác những ước vọng cho con mình, đó là một hiện tượng gọi là phóng chiếu, tạm dịch là project. Trường hợp hai người ở với nhau cũng vậy, dù là mẹ con hay là anh em, hay là vợ chồng. Thầy với học trò cũng vậy, thầy luôn luôn có những ước vọng đối với học trò, và học trò cũng luôn luôn có những ước vọng đối với thầy. Người này muốn lấy hình ảnh của người kia và cho người kia hình ảnh của mình. Trong đời sống hàng ngày, chúng ta có thể có những lỗi lầm trong khi làm công việc đó. Nếu chúng ta muốn cho con học theo cái mà mình muốn, như mặc cái áo mà hồi nhỏ mình không được mặc. Ví dụ có bà mẹ rất ưa cho con mặc áo dài đỏ, tại vì ngày xưa bà không bao giờ được mặc cái áo đó. Nó trở thành một ước muốn rất sâu đậm. Nếu bây giờ con bà mặc áo dài đỏ là một điều rất thỏa mãn cho bà. Nhưng cô bé nhất định không mặc áo dài đỏ, cho nên hai mẹ con có sự căng thẳng. Đứa con nhìn bà mẹ cũng vậy, và bà mẹ nhìn đứa con cũng vậy, mỗi người đều phóng chiếu cái ước muốn của mình, cái đau khổ của mình nơi người khác. Và khi mình thấy người khác phản đối lại, không làm theo đúng như mình thì mình giận, mình tức, mình buồn và từ đó sự liên lạc với thực tại bị mất đi. Mình mất sự tiếp xúc với thực tại và mình mất luôn người con, hay là mình mất luôn người mẹ của mình.
 

Quán chiếu để nhìn thấy sự thật

Đó là vấn đề của thức thứ sáu và thức thứ bảy. Thức thứ bảy có những cái mà tâm lý học Tây phương gọi là ước muốn vô thức. Chúng ta phải quán niệm, phải thấy được, phải diễn tả được. Phải phối hợp với thức thứ tám, nếu không thì sự chống đối giữa hai thức sẽ tạo ra một sự nhiễu loạn. Nếu qua cuộc khủng hoảng đó mà hai người sống sót được, đó là chuyện may mắn. Nhưng có khi không vượt được, nếu vượt qua được ba phần tư thì cũng có thể còn sống sót. Ví dụ có hai mẹ con cô kia, cô gái có người yêu và rất muốn ra đi sống với người yêu. Nhưng bà mẹ nghĩ rằng, nếu mình mất con gái thì đời mình còn gì nữa. Và bà ta rất đau buồn, bà ta mới làm ra một cách là bà ta yếu đuối, bà ta một mình không sống được. Cái này không phải là ý thức, mà là thức thứ bảy. Tự nhiên một ngày nào đó tự nhiên bà yếu xìu, buổi sáng bà dậy không được. Không phải là bà đóng kịch, mà do thức thứ bảy nó làm ra như vậy. Bà làm cho người con gái phải để hết thì giờ và tâm trí vào bà, và sự thành công đầu nó đưa tới sự thành công thứ hai, tức là cô con gái thấy rằng mình không thể nào đi lấy chồng được, mình phải ở nhà với mẹ. Bệnh này bây giờ không phải là bệnh giả đò, nó thiết kế ra do thức thứ bảy. Khi mình buồn thì thân thể mình nó yếu đuối. Khi mình muốn cái gì thì thân thể mình theo cái đó. Nhưng bà đó không có dám nói ra, đôi khi bà cũng không biết. Bà bệnh như vậy là vì muốn cho con bà đừng đi lấy chồng, nhưng bà không nói ra được, tại đó là một ước muốn thâm trầm ở trong thức thứ bảy. Cho nên bà cứ tiếp tục bệnh và yếu như vậy. Và cô kia, tiềm thức của cô là muốn đi lấy chồng, nhưng tại vì bà mẹ như vậy thành ra cô phải ở lại. Tiềm thức của cô muốn bỏ, nhưng cô là một người con có hiếu, cô không thể nào làm khác hơn là cô ở lại với mẹ và hai người đau khổ. Hai người đau khổ là vì hai ước muốn không nói ra được, hoặc vì không biết. Đôi khi mình tưởng là mình có hiếu thật, cho nên mình ở nhà. Nhưng kỳ thực mình có đau khổ trong khi ở nhà với mẹ, tại vì không sống được với người mình yêu. Thành ra có một bữa đó, cô ta trong khi hầu mẹ, lo cho mẹ, cô có những cử chỉ do sự phản chiếu lại cái ẩn ức. Ví dụ như cô đặt cái chén hơi mạnh, cô không có muốn vô lễ với mẹ, nhưng mà cô lại làm như vậy. Thì cũng giống bà mẹ đâu có muốn bệnh, nhưng cái tâm thức nó hiện ra như vậy, làm cho bệnh thôi, bà đâu muốn như vậy. Cô đâu có muốn đặt cái chén mạnh, nhưng bà mẹ thấy được và nói: không biết con có thương mẹ thiệt không. Thì cô ta trả lời rằng: nếu con không thương mẹ thì con đã không còn ở nhà, con đã đi lấy chồng rồi. Hai bên cứ lý luận như vậy, mà kỳ thực không có ai thấy được sự thật, cái ước muốn vô thức của mình. Người mẹ ước muốn con không đi lấy chồng để ở với mình, và người con muốn đi lấy chồng nhưng không đi được. Từ từ sự liên lạc giữa hai người sẽ căng thẳng, hai người sẽ khổ và hai người bị bệnh hết. Đó là vì những ước muốn của thức thứ bảy và thức thứ sáu không thấy được. Vì vậy cho nên thức thứ bảy truyền qua thức thứ sáu những hoạt động, những lời nói, những cử chỉ rất là bất thường. Nếu không cẩn thận thì nó làm đổ vỡ. Những người đó là những người cần phải tu tập, phải cần những bạn đồng tu. Họ chỉ cho những nhà trị liệu tâm lý, họ chỉ cho tìm được những vị thầy hay.

Duy thức học có thể rọi chiếu cho chúng ta nhiều vấn đề và có thể đóng góp cho tâm lý học Tây phương rất nhiều. Thường thường những người tu thiền cứ nghĩ rằng ngồi thiền là có thể giải quyết được những vấn đề tâm lý, nhưng nó còn tùy theo cách ngồi thiền. Tại vì vấn đề khổ đau của mình có liên hệ với vũ trụ vạn hữu và với những người khác. Thành ra chỉ ngồi thiền là không có đủ, mình phải nói chuyện với người khác, mình phải tiếp xúc với người khác, mình phải thiết lập liên lạc tốt với người khác. Như vậy là mình thực hiện được chánh niệm ngay trong đời sống hàng ngày. Nếu không, ngồi thiền có khi chỉ là một hoạt động trốn tránh mà thôi. Tôi ngồi thiền là tại vì tôi muốn trốn anh, tôi muốn trốn cái không khí của cái xã hội này, của đại chúng. Và khi tôi ngồi thiền, anh không thể nào trách tôi được, nhất là khi tôi đang ở trong một thiền viện. Tôi nghĩ là tốt, nhưng kỳ thực ngồi thiền như vậy là xấu, ngồi thiền như vậy là trốn tránh sự thật. Đúng hơn là phải ra với người này, phải ra với người kia, phải quán chiếu, phải thiết lập được liên lạc với sự thực của người kia. Cha phải biết được con, mẹ phải biết được con, con phải biết được mẹ để có cái tiếp xúc thật. Còn vào ngồi thiền, ngồi năm giờ, bảy giờ, tám giờ chẳng qua chỉ là trốn thôi và ngồi thiền không phải là để trốn như vậy. Ngồi thiền là để đối diện chứ không phải để trốn. Hiện bây giờ đây có rất nhiều thiền sinh ở bên Mỹ, họ ngồi thiền là để trốn xã hội của họ, trốn gia đình của họ và thiền đó không có giải quyết được vấn đề.

-----------------------

(1) Bài của thầy Huyền Trang về tám thức (bát thức)

Xem tiếp...

 

Không có con đường nào đưa ta đến hạnh phúc - hạnh phúc chính là con đường.

Thiền sư THÍCH NHẤT HẠNH

... Thích Nhất Hạnh, người xướng xuất chủ thuyết triết học Engaged Buddhism (Đạo Phật dấn thân), và đã gây niềm cảm hứng cho phong trào Phật Giáo tranh đấu cho hòa bình trong những năm tháng chiến tranh. Ở lãnh vực tôn giáo, Thầy là một trong những tư tưởng gia và hành động gia lớn nhất của thời đại chúng ta.

Bằng kinh nghiệm bản thân của mình, Thầy đã thấy được tại sao những ý thức hệ và những tư trào thế tục và đại chúng hóa - như chủ nghĩa quốc gia quá khích, chủ nghĩa phát xít, chủ nghĩa cộng sản và chủ nghĩa thực dân - đã làm tuôn ra bao nhiêu nguồn năng lượng bạo động cho thế kỉ thứ 20, những nguồn năng lượng bạo động chưa từng được tuôn ra quá nhiều như thế trong quá khứ. Thầy đã học được bài học này từ khi còn nhỏ tuổi. (...) Tuy lớn lên và sống trong không khí thanh tịnh của thiền viện, thầy Nhất Hạnh cũng không thể nào đứng ra ngoài được cuộc tranh chấp đang xảy ra chung quanh. Thầy thấy được nhu cầu xác định sự quan yếu cấp thiết của lòng từ bi đạo Phật trong một nền văn hóa càng ngày càng bắt buộc phải trở nên bạo động thêm lên. Thầy tin tưởng rằng chỉ có thể chấm dứt được chiến tranh khi ta dập tắt được ngọn lửa của sợ hãi, thù hận, khinh miệt và giận dữ, những chất liệu đích thực đang nuôi dưỡng chiến tranh.

Năm 1965, sau ngày có một vị xuất gia nữa tự thiêu cho hòa bình, thầy Nhất Hạnh đã viết cho mục sư Martin Luther King Jr, nhà lãnh đạo dân quyền Mỹ rằng: “Những vị xuất gia khi tự thiêu, không nhắm tới cái chết của những người áp bức họ, mà chỉ muốn có một sự thay đổi chính sách của những người ấy thôi. Họ bảo kẻ thù của họ không phải là con người. Kẻ thù của họ là sự thiếu bao dung, là cuồng tín, là độc tài, là tham lam, là hận thù và sự kỳ thị đang mằm sâu trong trái tim con người”. Thầy Nhất Hạnh đã hướng dẫn cho mục sư King và tiếp sau đó chuyển hóa cảm nghĩ của cả dư luận Hoa Kỳ đi về hướng chống đối lại chiến tranh Việt Nam. (...)

Thầy Nhất Hạnh năm nay đã 80 tuổi, đang hành đạo trong một tu viện bên Pháp. Thầy đã đóng góp một vai trò quan trọng trong việc trao truyền một truyền thống tâm linh Á châu cho xã hội Tây phương, một xã hội tân tiến nhưng phần lớn đã hoàn toàn thế tục hóa. Thầy dạy: “Đừng bị kẹt vào một chủ thuyết nào, một lý thuyết nào, một ý thức hệ nào, kể cả những chủ thuyết Phật giáo. Những giáo nghĩa Phật dạy phải được nhận thức như những pháp môn hướng dẫn thực tập để phát khởi tuệ giác và từ bi mà không phải là một chân lý tuyệt đối để thờ phụng và bảo vệ”. Trong khi các nhà lãnh đạo của thời đại ta từ Hoa Kỳ đến Iran đang lớn tiếng đốc thúc quần chúng họ tham dự vào những cuộc chiến tranh ý thức hệ mới, tạo nên những nguy cơ biến thế kỷ này thành một thế kỷ còn đẫm máu hơn cả thế kỷ vừa rồi, chúng tôi thiết nghĩ tất cả chúng ta đều nên hướng về và đi theo tuệ giác của Thiền sư Nhất Hạnh.

Trích dịch từ : Thich Nhat Hanh
This Buddhist monk helped end the suffering of the Vietnam War

TIME ASIA - 60 YEANS OF ASIAN HEROES

 

LÊN TRÊN=  | GỬI BÀI  |     LÊN TRÊN=

Phù Sa được thực hiện bởi nhóm PSN (Phù Sa Network).
Là tiếng nói của người Việt Tự Do trong và ngoài nước nhằm phát huy khả năng Hiểu Biết và Thương Yêu để bảo vệ và thăng hoa sự sống.
PSN không loan tin thất thiệt, không kích động hận thù, và bạo lực. Không chủ trương lật đổ một chế độ, hay bất kỳ một chính phủ nào.