PSN
BỘ MỚI 2007
HỘP THƯ

                          TRANG CHÍNH

Hãy tự thắp đuốc mà đi ! (Siddhatta)

Thiền sư THÍCH NHẤT HẠNH

. . .  Thích Nhất Hạnh, người xướng xuất chủ thuyết triết học Engaged Buddhism (Đạo Phật dấn thân), và đã gây niềm cảm hứng cho phong trào Phật Giáo tranh đấu cho hòa bình trong những năm tháng chiến tranh.  Ở lãnh vực tôn giáo, Thầy là một trong những tư tưởng gia và hành động gia lớn nhất của thời đại chúng ta. 

Bằng kinh nghiệm bản thân của mình, Thầy đã thấy được tại sao những ý thức hệ và những tư trào thế tục và đại chúng hóa - như chủ nghĩa quốc gia quá khích, chủ nghĩa phát xít, chủ nghĩa cộng sản và chủ nghĩa thực dân - đã làm tuôn ra bao nhiêu nguồn năng lượng bạo động cho thế kỉ thứ 20, những nguồn năng lượng bạo động chưa từng được tuôn ra quá nhiều như thế trong quá khứ.  Thầy đã học được bài học này từ khi còn nhỏ tuổi.  (. . .  ) Tuy lớn lên và sống trong không khí thanh tịnh của thiền viện, thầy Nhất Hạnh cũng không thể nào đứng ra ngoài được cuộc tranh chấp đang xảy ra chung quanh.  Thầy thấy được nhu cầu xác định sự quan yếu cấp thiết của lòng từ bi đạo Phật trong một nền văn hóa càng ngày càng bắt buộc phải trở nên bạo động thêm lên.  Thầy tin tưởng rằng chỉ có thể chấm dứt được chiến tranh khi ta dập tắt được ngọn lửa của sợ hãi, thù hận, khinh miệt và giận dữ, những chất liệu đích thực đang nuôi dưỡng chiến tranh. 

Năm 1965, sau ngày có một vị xuất gia nữa tự thiêu cho hòa bình, thầy Nhất Hạnh đã viết cho mục sư Martin Luther King Jr, nhà lãnh đạo dân quyền Mỹ rằng: “Những vị xuất gia khi tự thiêu, không nhắm tới cái chết của những người áp bức họ, mà chỉ muốn có một sự thay đổi chính sách của những người ấy thôi.  Họ bảo kẻ thù của họ không phải là con người.  Kẻ thù của họ là sự thiếu bao dung, là cuồng tín, là độc tài, là tham lam, là hận thù và sự kỳ thị đang mằm sâu trong trái tim con người”.  Thầy Nhất Hạnh đã hướng dẫn cho mục sư King và tiếp sau đó chuyển hóa cảm nghĩ của cả dư luận Hoa Kỳ đi về hướng chống đối lại chiến tranh Việt Nam.  (. . .  )

Thầy Nhất Hạnh năm nay đã 80 tuổi, đang hành đạo trong một tu viện bên Pháp.  Thầy đã đóng góp một vai trò quan trọng trong việc trao truyền một truyền thống tâm linh Á châu cho xã hội Tây phương, một xã hội tân tiến nhưng phần lớn đã hoàn toàn thế tục hóa.  Thầy dạy: “Đừng bị kẹt vào một chủ thuyết nào, một lý thuyết nào, một ý thức hệ nào, kể cả những chủ thuyết Phật giáo.  Những giáo nghĩa Phật dạy phải được nhận thức như những pháp môn hướng dẫn thực tập để phát khởi tuệ giác và từ bi mà không phải là một chân lý tuyệt đối để thờ phụng và bảo vệ”.  Trong khi các nhà lãnh đạo của thời đại ta từ Hoa Kỳ đến Iran đang lớn tiếng đốc thúc quần chúng họ tham dự vào những cuộc chiến tranh ý thức hệ mới, tạo nên những nguy cơ biến thế kỷ này thành một thế kỷ còn đẫm máu hơn cả thế kỷ vừa rồi, chúng tôi thiết nghĩ tất cả chúng ta đều nên hướng về và đi theo tuệ giác của Thiền sư Nhất Hạnh. 

Trích dịch từ : Thich Nhat Hanh
This Buddhist monk helped end the suffering of the Vietnam War

TIME ASIA - 60 YEANS OF ASIAN HEROES


 

 

 

 Nghệ thuật sống thiền :


Mất Còn trong cõi Sống Chết (2)

 

  • Tháng VI 2007 - Lê Thạch Thất biên tập : [1]
    Pháp thoại của Sư ông Làng Mai ngày 21. 4.2007  Trai Đàn Chẩn Tế
    tại Chùa Non Nước, Sóc Sơn - Hanoi (Ngày thứ Hai)

    Â
    m thanh MP3 : Phần 1 (14.8MB)  Phần 2 (15MB) 
     

Kính thưa chư vị tôn đức,

Kính thưa quý vị khách quý và toàn thể Phật tử.

Ngày hôm qua, thứ sáu, hai mươi tháng tư, năm hai ngàn không trăm lẻ bảy, vào lúc ba giờ chiều, chúng ta đã làm lể triệu vong và các hương linh về đông lắm, đầy cả núi rừng và trên hư không. Chúng ta đã làm lể quy y cho các hương linh, chúng ta đã hướng dẫn các hương linh thực tập quy y Phật, Pháp và Tăng. Chiều hôm qua, các hương linh cũng về nhiều lắm và sáng hôm nay cũng vậy. Cho nên sau buổi pháp thoại hôm nay, chúng ta sẽ làm lể quy vong một lần nữa, hướng dẫn cho các hương linh và các loại cô hồn được quay về nương tựa Phật, Pháp, Tăng và nghe năm giới.

 

 

“Con đã đi tìm Thế Tôn”

Sáng hôm nay, để bắt đầu buổi pháp thoại, chúng ta sẽ mời các hương linh và các giới cô hồn được nghe bài “Con đã đi tìm Thế Tôn”. Bài này sẽ được tăng thân làng Mai hợp xướng. Đây là quá trình thực tập của chúng ta đi tìm đức Thế Tôn và hôm nay chúng ta đã tìm ra Thế Tôn. Bài này cử xướng để cúng dường chư Bụt, chư vị Bồ Tát, tăng thân và cũng là để khai thị cho chư hương linh và các oan hồn uổng tử. Chúng ta người nào cũng có thao thức muốn đi tìm đức Thế Tôn để được nương náu, để được an ổn và chuyển hóa.

Tôi xin đọc bài này trước, rồi sau đó tăng thân của làng Mai sẽ cử xướng.
Xin đại chúng ngồi cho thanh tịnh vì đây không phải là một bài hát, đây là một hành trình trở về với đức Thế Tôn.

 

Con đã đi tìm Thế Tôn.

Từ hồi còn ấu thơ.

Con đã nghe tiếng gọi của Thế Tôn

Từ khi mới bắt đầu biết thở.

Con đã ruổi rong vạn nẻo đời hiểm trở.

Đã từng đau khắc khoải

Với trăm thương ngàn nhớ.

Trên bước đường hành hương.

Con đã đi tìm Thế Tôn.

Trong tận cùng hoang dã.

Ngoài mênh mông biển lạ.

Trên tuyệt mù cao sơn.

Con đã từng nằm chết quạnh hiu.

Trên cánh sa mạc già.

Con đã từng cố dấu lại vào tim.

Những dòng lệ đá.

Con đã từng mơ uống những giọt sương.

Lấp lánh hành tinh xa.

Con đã từng ghi dấu chân trên non bồng diễm ảo.

Con đã từng cất tiếng kêu gào.

Dưới ngục A tỳ mòn mỏi hư hao.

Bởi vì con đói lạnh.

Bởi vì con khát khao.

Bởi vì con muốn tìm được cho ra.

Bóng hình ai muôn đời tuyệt hảo. 

Con biết nằm trong trái tim con.

Là niềm tin diệu kỳ.

Thâm sâu và uyên áo.

Là Thế Tôn có mặt đó.

Dù con chưa biết đích xác Thế Tôn đâu.

Con linh cảm rằng từ muôn kiếp xa xưa.

Thế Tôn với con đã từng là một.

Rằng khoảng cách giữa hai ta.

Không thể dài hơn quá một nhịp tâm đầu.

Chiều hôm qua bước đi một mình.

Con thấy lá thu rơi đầy lối cũ.

Và vầng trăng treo trước ngõ.

Đã xuất hiện bất thần.

Như bóng hình người cũ.

Rồi tinh đẩu xôn xao báo tin.

Là Thế Tôn đã có mặt nơi này.

suốt đêm qua trời giáng mưa cam lộ.

Chớp lòe qua cửa sổ.

Trời lên cơn bảo tố.

Đất trời như giận dữ.

Nhưng cuối cùng trong con.

Mưa cũng tạnh mây cũng tan.

Nhìn ra cửa sổ.

Con thấy vầng trăng khuya đã hiện.

Và đất trời đã thực sự bình an.

Tự soi mình trong gương nguyệt.

Con thấy con.

Và con bổng thấy Thế Tôn.

Thế Tôn đang mỉm cười.

Ô hay.

Vầng trăng thảnh thơi vừa trả lại cho con.

Tất cả những gì con ngỡ rằng đã mất.

Từ khoảnh khắc ấy.

Từng phút giây miên mật.

Con thấy không có gì đã qua.

Không có gì cần phục hồi.

Bông hoa nào. Hạt sỏi nào.

Ngọn lá nào.

Cũng nhìn con nhận mặt.

Nhìn đâu con cũng thấy nụ cười Thế Tôn.

Nụ cười của không sinh không diệt.

Đã nhận được tự gương nga.

Con đã nhìn thấy Thế Tôn.

Thế Tôn ngồi đó.

Vững như núi Tu di.

Bình an như hơi thở.

Thế Tôn ngồi đó.

Như chưa bao giờ từng văng mặt.

Như chưa bao giờ trên thế gian.

Đã từng có cơn bảo lửa.

Thế Tôn ngồi đó.

Yên lặng và thảnh thơi.

Con đã tìm ra Thế Tôn.

Con đã tìm ra con.

Nước mắt con không cầm nổi.

Con ngồi đó.

Im lặng trời xanh cao.

Núi tuyết in nền trời.

Và nắng reo phơi phới.

Thế Tôn là tình yêu đầu.

Thế Tôn là tình yêu tinh khôi.

Nghĩa là không bao giờ.

Sẽ cần tình yêu cuối.

Người là dòng sông tâm linh.

Tuy đã từng chảy qua.

Hàng triệu kiếp luân hồi.

Nhưng luôn luôn còn mới.

Con đã đi tìm Thế Tôn. Từ hồi còn ấu thơ.

Con đã nghe tiếng gọi của Thế Tôn.

Từ khi mới bắt đầu biết thở.

Thế Tôn là Bình An.

Thế Tôn là vững chãi.

Thế Tôn là Thảnh Thơi.

Người là Bụt Như Lai.

Con nguyện một lòng nuôi dưỡng.

Chất liệu thảnh thơi.

Chất liệu vững chãi.

Và truyền đạt tới mọi loài.

Hôm nay và ngày mai.

 

Kính thưa các vị tôn túc,

Kính thưa các thầy, các sư cô, các Phật tử và các vị khách quý.

Sáng hôm nay, chúng ta đã ngồi thiền và chúng ta đã ngồi cho các hương linh. Sáng nay, chúng ta đã đi thiền hành, chúng ta đã đi cho các hương linh và các loại cô hồn. Chúng ta đã bước những bước thảnh thơi và vững chãi, mỗi bước đều cho phép chúng ta về, mỗi bước đều cho phép chúng ta tới, đã về đã về, đã tới đã tới. Chúng ta đã để cho các vị hương linh mượn hai chân của chúng ta đi những bước thiền hành vững chãi và thảnh thơi. Chúng ta đã để cho các vị hương linh sử dụng hai chân của chúng ta để có thể về để có thể tới. Về với đức Thế Tôn, về với quê hương tâm linh của mình. Tới với đức Thế Tôn, tới nơi quê hương tâm linh của mình. Chúng ta đã thực tập một hơi thở vào, đi hai bước chân - con đã về, con đã về. Một hơi thở ra, đi hai bước chân - con đã tới, con đã tới. Con không có đi vòng nữa, con không có rong ruổi nữa, con không chạy nữa, con không đi tìm kiếm gì nữa. Con đã tới, con đã về, con đã về cho các hương linh, con đã tới cho các hương linh. Mỗi bước chân của con là một lời cầu nguyện, mỗi bước chân của con giúp cho hương linh cũng về được, cũng tới được như con. Con đã về, con đã về, con đã tới, con đã tới, con đã về cho tám mươi hai triệu đồng bào, con đã tới cho tám mươi hai triệu đồng bào để tám mươi hai triệu đồng bào cũng có thể được về được tới bằng bước chân của con cảm thấy thoải mái an lạc và hạnh phúc trong đời sống hàng ngày.

 

 

ngày Tết bói Kiều,

Kính thưa các vị tôn túc, các thầy, các sư cô,

Các đạo hữu và các vị quan khách,

Làng Mai bên Pháp chúng tôi, ngày Tết có bói Kiều, linh lắm. Phái đoàn quốc tế làng Mai dự định khởi hành vào mùng bốn Tết để về Việt Nam, phái đoàn đại diện cho trên ba mươi quốc gia. Hôm mùng một Tết, một sư cô ở làng Mai đã xin một quẻ Kiều, xem thử cụ Nguyễn Du nói như thế nào về chuyến đi này. Làng Mai không những các thầy, các sư cô và các Phật tử người gốc Việt bói Kiều, mà các thầy các sư cô các thiền sinh người Tây Phương cũng rất là ham bói Kiều; bói Kiều linh lắm. Muốn bói Kiều cho được, mình phải có kiến thức về Phật Pháp, kiến thức về tâm lý học và phải có hiểu biết khá vững về văn chương truyện Kiều.

 

Năm đầu bói Kiều, chỉ có một mình tôi đoán quẻ thôi, nhưng mà các thầy, các sư cô và các Phật tử đều học theo được. Cuối cùng, ở làng Mai, người nào cũng có khả năng đoán Kiều và có nhiều vị còn hay hơn tôi nữa. Năm nay, sư cô trụ trì chùa Từ Nghiêm đã bói một quẻ, để xem cụ Nguyễn Du nói như thế nào về chuyến đi xuân Đinh Hợi của tăng thân làng Mai. Chúng tôi biết rằng trong chuyến đi này, thế nào cũng có những khóa tu dành cho người xuất gia, những khóa tu dành cho người tại gia, những  buổi pháp thoại dành cho Phật tử cư sĩ, những  buổi diển thuyết dành cho giới trí thức, nhân sĩ, các bạn thanh niên. Nhưng chuyến đi này có một hoạt động, một sinh hoạt đặt biệt là có ba đại trai đàn chẩn tế giải oan bình đẳng, để cầu cho quốc thái dân an, âm siêu dương thái. Trong chiến tranh, chúng ta đã có hàng triệu người thiệt mạng và chưa có cơ hội chính thức tới với nhau để cầu nguyện cho tất cả các đồng bào tử nạn trong chiến tranh, kể cả những người thuyền nhân vượt biển. Chúng ta tới với tư cách những đồng bào với nhau và cầu nguyện cho tất cả các đồng bào bị nạn không phân biệt Bắc Nam, gái trai, già trẻ, tôn giáo, đảng phái chính trị. Chúng ta vượt lên trên mọi ranh giới. Trong chuyến về này, chúng tôi đã được phép của thủ tướng chính phủ, cộng tác với giáo hội Phật giáo Việt Nam để tổ chức ba trai đàn như thế. Đây là cơ hội rất lớn để chúng ta có thể tới với nhau, để chữa lành những thương tích trong suốt mấy mươi năm chiến tranh.

 

Chúng tôi ở bên làng Mai chuyên về tu thiền, ít khi tổ chức những đàn trai có tính cách Mật giáo. Chúng tôi biết rằng phải nương tựa trên các vị tôn đức trong giáo hội, mà nắm vững được nghệ thuật, cũng như là phép hành trì trai đàn chẩn tế. Cố nhiên là những Phật sự như thế cần có rất nhiều chuẩn bị và thế nào cũng có những khó khăn. Khó khăn từ bên trong và từ bên ngoài. Có những người nói là chưa đến lúc tổ chức những trai đàn chẩn tế như thế. Có những người thì lại nói rằng tổ chức trai đàn chẩn tế như thế là để cho người ta lợi dụng. Cho nên những Phật sự này nếu mình không có một tâm can trường vô úy thì mình không có dám đi tới để tổ chức. Thành thử thầy trò ở làng Mai không biết rằng mình có đủ nhân duyên để mà thực hiện ước vọng này không.

 

Ngày xưa vua A Dục [2] sau khi đã thống nhất được toàn cõi Ấn Độ, biết rằng có những oan ức đã xãy ra trong cuộc chiến, cho nên hoàng đế Asoka bắt đầu tu tập, thọ năm giới, thọ ba quy và bắt đầu ăn chay, bắt đầu trồng cây, bắt đầu đào giếng, bắt đầu yểm trợ các giáo phái ở trong nước. Nhờ sự thực tập tâm linh như vậy, sau một thời gian, hoàng đế A Dục đã thống nhất được nhân tâm. Thống nhất được lãnh thổ là chuyện khó mà thống nhất được lòng người lại là chuyện khó hơn nữa. Cho nên chúng tôi đã mời các vị lãnh đạo trong chính quyền tới tham dự những trai đàn chẩn tế tổ chức ở tại miền Nam, miền Trung và miền Bắc.

 

Quẻ Kiều mà sư cô trụ trì chùa Từ Ngiêm xin được có hai câu: Người đâu hiếu nghĩa đường đường. Này thôi hết kiếp đoạn trường là đây. Chúng tôi đã ngồi lại, chúng tôi đã tìm cách để giải thích ý của thi hào Nguyễn Du. Chính tôi cũng ngồi để chiêm nghiệm, thì đây là những điều tôi tìm ra, xin chia sẻ với quý vị.

 

Người đâu hiếu nghĩa đủ đường.

Người đâu hiếu nghĩa đủ đường. Cụ muốn nói tới người Việt chúng ta, người Việt chúng ta có hạt giống của hiếu và của nghĩa. Người nào trong chúng ta cũng mang theo hạt giống của hiếu đễ và của tình nghĩa. Cũng như tất cả chúng ta, người nào cũng có Phật tính; tất cả người Việt, người nào cũng có hạt giống của hiếu và của nghĩa. Nghĩa là sự trung thành, hiếu là sự nhớ ơn. Chính cái hiếu đó và cái nghĩa đó, nó dựng lên được nền văn hóa Việt Nam. Nhưng nếu chúng ta sống trong những hoàn cảnh khó khăn,  hạt giống của hiếu và nghĩa không được tưới tẩm mỗi ngày. Nên chúng ta phải gánh chịu nhiều khổ đau. Nếu chúng ta bận làm ăn quá, nếu chúng ta không có thì giờ để tu tập theo lời Phật dạy, chúng ta không có cơ hội tưới tẩm những hạt giống của hiếu và nghĩa có sẵn trong lòng chúng ta. Những hạt giống đó nó có thể yếu đi mỗi ngày. Khi hạt giống của hiếu và của nghĩa yếu đi, thì chúng ta có buồn giận, có lo âu, có trách móc, có hận thù. Chúng ta không hạnh phúc và chúng ta làm cho những người đồng bào khác không có hạnh phúc. Cho nên sự thực tập là phải tưới tẩm những hạt giống của hiếu và của nghĩa mỗi ngày. Nếu chúng ta quá bận rộn, nếu chúng ta theo đuổi một dự án mà nó lấy hết tất cả thì giờ chúng ta, thì chúng ta sẽ không còn thì giờ để tu tập, để tưới trồng những hạt giống của hiếu nghĩa. Cho nên chúng ta có chiến tranh, chúng ta có xung đột, không những với người ngoài mà xung đột với nhau. Những quãng thời gian khổ đau đó, nó tương đương với những khổ đau mà nàng Kiều phải gánh chịu trong mười lăm năm luân lạc. Nàng Kiều đã phải gánh chịu quá nhiều khổ đau, đã gặp tú bà, đã gặp Bạc Hạnh, Bạc Bà, đã gặp Hoạn Thư, đã đi với Thúc Sinh, đã đi với Từ Hải. Đất nước quê hương của chúng ta, có khi chúng ta phải đi với Pháp, có khi chúng ta phải đi với Nhật, có khi chúng ta phải đi với Tàu, có khi chúng ta phải đi với Mỹ. Chúng ta luân lạc không phải là mười lăm năm mà nhiều hơn mười lăm năm. Quãng đời đó là đứt ruột, tại vì khổ đau rất là nhiều và hai chữ đoạn trường trong câu thứ hai nó có nghĩa như vậy.

 

Chúng ta đã trải qua những giai đoạn rất là đau đớn, rất là khổ đau. Sáu, bảy triệu người đã chết trong chiến tranh. Biết bao nhiêu người đã chết trong tối tăm, trong oan ức, trong sầu khổ, trong tuyệt vọng. Vậy mà chúng ta chưa có cơ hội tới với nhau, như những đồng bào ruột thịt, để cầu nguyện cho tất cả những người đó, không phân biệt chủng tộc, tôn giáo, đảng phái chính trị. Vậy câu đầu của cụ Nguyễn Du cho chúng ta - Người đâu hiếu nghĩa đủ đường - Chúng ta vốn có hạt giống của tình, của nghĩa, của hiếu, của đễ. Nhưng phải có cơ hội, có thời giờ để tu tập, tưới tẩm những hạt giống đó. Có lẽ cụ Nguyễn Du đã nói rằng đại trai đàn chẩn tế giải oan bình đẳng là một trong những phương pháp thực tập, để tưới tẩm lại hạt giống của tình và nghĩa trong mỗi chúng ta. Điều đó chúng ta có thể thấy được rất rõ rệt trong Đại trai đàn chẩn tế ở chùa Vĩnh Nghiêm. Hôm qua tôi đã nói rằng trong Đại trai đàn chẩn tế ở Vĩnh Nghiêm đó, tất cả các Phật tử không phân biệt tông phái đều có mặt. Những người không phải Phật tử cũng tới, cũng có mặt, có rất nhiều người theo đạo Công giáo và đạo Tin lành đã tới. Tất cả đều một lòng, một dạ, cầu nguyện cho những người thân chúng ta đã mất với một trái tim rất là thuần khiết. Có nhiều người đã khóc và những giọt nước mắt đó là những giọt nước mắt nó có khả năng trị liệu, làm lành những vết thương mà chúng ta mang trong trái tim từ mấy chục năm nay. Không những ở trai đàn chẩn tế Vĩnh Nghiêm, mà trai đàn chẩn tế quốc tự Diệu Đế, các thầy, các sư cô, các Phật tử và các vị quan khách cũng tới và cũng thực tập như vậy, cũng cầu nguyện như vậy. Chúng ta đã ôm nhau mà khóc, chúng ta đã công nhận những khổ đau trong quá khứ, chúng ta ôm lấy những nỗi khổ niềm đau đó của chúng ta và của đồng bào ta, để chúng ta làm lắng dịu và chúng ta chuyển hóa nhờ sức của tam bảo gia trì mà nghiệp của chúng ta được chuyển hóa. Và chúng ta cảm thấy nhẹ nhàng lên hơn nhiều lắm sau bao ngày thực tập trai đàn chẩn tế.

 

Trai đàn chẩn tế ở tại chùa Non cũng thế, ngày hôm qua thật là bất ngờ. Chúng ta đã tới như là những người anh em đồng bào ruột thịt, không phân biệt chủng tộc, tôn giáo, chính kiến. Chúng ta cảm thấy được đoàn tụ trong một đại gia đình. Tất cả mỗi hơi thở, mỗi bước chân của chúng ta đều trở thành một lời cầu nguyện giúp cho tất cả hương linh và các loại cô hồn có cơ hội, có năng lượng dừng lại được, đã về đã tới, nhận ra đây là quê hương đích thực của mình, quê hương tâm linh đích thực của mình. Chúng ta đã để cho các vị hương linh, các vị cô hồn mượn phổi của chúng ta để thở, mượn hai chân của chúng ta để thực tập đã về đã tới. Điều đó tôi cảm thấy rất là hiện thực và đất trời hình như là cũng cảm động. Cho nên chúng ta thấy rõ ràng là sự chuyển hóa đem tới do sự thực tập là điều chúng ta không thể nào phủ nhận được.

 

Riêng tôi, tôi muốn làm tất cả những gì mình có thể làm, để yểm trợ, để hộ niệm cho trai đàn chẩn tế. Tôi ngồi trong phòng, nhưng theo dõi những lời kinh, tiếng kệ và tôi hộ niệm cho các vị kinh sư. Mỗi bước chân tôi đặt trong chánh niệm, bước chân nào cũng về, bước chân nào cũng tới, về cho các hương linh, tới cho các cô hồn. Về cho tám mươi hai triệu đồng bào và tới cho tám mươi hai triệu đồng bào. Khi mà chúng ta thực tập được như thế, thì chắc chắn là hạt giống của tình nghĩa, của hạnh phúc được tưới tẩm. Lúc đó, chúng ta có năng lượng của tình thương, của hạnh phúc và đó là lời khuyên của thi sĩ Nguyễn Du, Người đâu hiếu nghĩa đủ đường. Phải thực tập, mình có hạt giống đó rất là quý, mình phải thực tập, mình đừng bận rộn quá trong những công việc hàng ngày của mình, phải tới với nhau như là một tăng thân, như là những người huynh đệ, phải có thì giờ để thực tập, đừng có bận rộn quá, thực tập tưới tẩm hai hạt giống đó, hạt giống hiếu và hạt giống nghĩa là đủ để hạnh phúc.

 

Khi sự thực tập đó đi tới một mức nào đó, tự nhiên những oan khổ, uất ức, đoạn trường sẽ chấm dứt. Vì vậy có câu thứ hai, Này thôi hết kiếp đoạn trường là đây. Có nghĩa là dân tộc ta đã đi ngang qua một cơn ác mộng quá lâu dài. Và nếu chúng ta thực tập thì chúng ta biết rằng kiếp đoạn trường của chúng ta sẽ chấm dứt, đang chấm dứt và đã chấm dứt, đó là một tin rất là mừng.

 

Đất nước, dân tộc ta từ nay trở về sau, sẽ không còn phải lâm vào tình trạng khổ đau, oan khuất như là trong mấy chục năm vừa qua. Cho nên tôi cảm ơn thi hào Nguyễn Du, đã ban cho chúng tôi hai câu Kiều đó, nâng đỡ rất nhiều, yểm trợ rất nhiều:

Người đâu hiếu nghĩa đủ đường.

Này thôi hết kiếp đoạn trường là đây.

 

 

có không còn mất

Ngày hôm qua, trong bài pháp thoại, chúng tôi đã nói tới ý niệm có không còn mất. Có không là một vấn đề triết học. Trong đạo Phật, chúng ta biết rằng triết học không có thể giải quyết được vấn đề có không, phải là sự thực tập mới có thể giải quyết được. Biết bao nhiêu cuốn sách nói về có và về không. Nhưng mà nếu chúng ta chỉ dùng trí năng của chúng ta để đi tìm chân lý thì sợ chúng ta không có đạt được sự thật. Cho nên chúng ta phải đi cao hơn triết học, chúng ta phải dùng thiền quán.

 

Hôm qua, chúng ta đã dùng thiền quán, chúng ta đã quán chiếu về một đám mây để thấy rằng đám mây nó không phải từ không mà trở thành có, nó không phải từ có mà trở thành không. Khi một đám mây không còn trên trời nữa, đám mây đó chưa chết. Tại vì “chết” trong đầu của chúng ta nó có nghĩa là từ có mà trở thành không. Một đám mây không thể nào từ có mà trở thành không được, một đám mây không thể nào chết được, một đám mây chỉ có thể trở thành mưa, trở thành tuyết, trở thành sương mà thôi. Tự tính của đám mây là không sinh cũng không diệt.

 

Chúng ta đã quán chiếu về một hạt mưa. Hạt mưa rơi trên đất, trong vòng một vài giây đồng hồ, hạt mưa biến mất. Hạt mưa biến mất không có nghĩa là hạt mưa chết, hạt mưa đã thay hình đổi dạng, hạt mưa đã thấm vào lòng đất, hạt mưa còn đó dưới một hình thức khác. Hoặc hạt mưa rơi trên một tảng đá, chỉ nội trong vài phút, hạt mưa có thể “biến bốc” thành hơi,  trở lại thành một phần của đám mây. Hạt mưa không có mất, hạt mưa không có chết, hạt mưa chỉ thay hình đổi dạng mà thôi. Cho nên ý niệm có không và ý niệm còn mất nó dính chùm với nhau. Nếu chúng ta thoát được ý niệm có không thì chúng ta cũng sẽ thoát được ý niệm còn mất.

 

Thi sĩ Vũ Hoàng Chương, trong bài ca Siêu Thoát, có kể lại rằng thi sĩ đã từng thức khuya thắp đèn bạch lạp, đọc sách triết học để tìm hiểu hai chữ có không.

Trải mấy hoang mang tìm kiếm.

Lòng sao khát mãi chưa vừa.

Hai chữ có không mầu nhiệm.

Đêm đêm ta hỏi người xưa.

Đêm đêm ta hỏi người xưa. Là đêm nào cũng chong đèn đọc sách triết học. Trải mấy hoang mang tìm kiếm.  Lòng sao khát mãi chưa vừa. Hai chữ có không mầu nhiệm. Đêm đêm ta hỏi người xưa. Đó là sự thực tập đọc sách chứ không phải là thiền quán, và thi sĩ đã đặt một câu hỏi:

Đâu có lẽ có chiều qua mà không sáng nay

 

 

Có thể nào từ có mà trở thành không được hay không?

Có thể nào từ có mà trở thành không được hay không? Người thương của chúng ta ngày xưa có, ta nhận thức được người thương của chúng ta dưới hình dáng đó. Bây giờ hình dáng đó không còn nữa và ta có thể đi tới kết luận là người thương của chúng ta không còn nữa, không có nữa. Nhưng kỳ thật, nếu đám mây không thể nào từ có mà trở thành không, nếu hạt sương không thể nào từ có mà trở thành không thì người thương của chúng ta cũng thế, không thể nào từ có mà trở thành không được. Cho nên chúng ta có thể tiếp tục tiếp xúc với người thương của chúng ta dưới hình dạng mới.

 

Trong đại trai đàn chẩn tế này, chúng ta đọc kinh là đọc cho chúng ta nghe mà cũng là đọc cho người thương chúng ta nghe. Chúng ta bước những bước chân cho chúng ta, nhưng mà cũng bước những bước chân cho người thương. Cho nên chúng ta có thể tiếp xúc được nói chuyện được, sờ mó được, sinh hoạt được với những người đã mất. Chúng ta không có tiếp xúc với hình thức năm xưa của những người đó. Nhưng mà những người đó vẫn còn chung quanh ta và còn trong chúng ta. Cho nên tiếp xúc với những người quá cố là chuyện mình có thể làm được trong bất cứ một giây phút nào của đời sống hàng ngày.

 

Cũng như  đức Thế Tôn, nếu chúng ta đi tìm đức Thế Tôn qua hình dáng người con trai của thành Ca Tỳ La Vệ thì sẽ không có có. Nhưng đức Thế Tôn đang có mặt với chúng ta trong từng giây phút của đời sống hàng ngày. Chúng ta có thể ngồi với đức Thế Tôn, chúng ta có thể ăn cơm với đức Thế Tôn, chúng ta có thể đi thiền hành với đức Thế Tôn. Cho nên tôi không thấy thiếu thốn đức Thế Tôn, tôi thấy đức Thế Tôn tràn đầy trong đời sống hàng ngày của tôi. Chỉ cần thực tập vô tướng, mình có thể tiếp xúc được với đức Thế Tôn. Chỉ cần thực tập vô tướng, mình tiếp xúc lại được với tổ tiên, ông bà, cha mẹ vẫn đang còn đó. Cha mẹ, ông bà, tổ tiên đang có mặt trong từng tế bào cơ thể, mình có thể luôn luôn nói chuyện được với ông bà, cha mẹ, tổ tiên bất cứ giờ phút nào mình muốn. Cõi âm và cõi dương tương tức, trong âm có dương và trong dương có âm, nó không có sự tách biệt. Nếu mình nghĩ rằng có một sự tách biệt, có một dòng sông nó chia cách giữa âm và dương, là mình chưa thấy được sự thật. Chúng ta phải vượt thoát được hai ý niệm có và không, chúng ta phải vượt thoát được hai ý niệm còn và mất. Chúng ta phải vượt thoát được ý niệm sinh và diệt.

 

Đây là một tờ giấy, đây không phải là triết học, đây là thiền quán. Chúng ta nhìn vào tờ giấy này, chúng ta thấy gì?  Người không tu nhìn vào tờ giấy thì chỉ thấy tờ giấy thôi, mà chưa chắc đã thấy một cách sâu sắc. Người tu nhìn vào tờ giấy thấy những không phải là tờ giấy. Trong tờ giấy này nó có một đám mây và khi tôi sờ vào tờ giấy, tôi sờ vào đám mây. Nếu không có đám mây thì làm sao mà có mưa, nếu không có mưa làm sao rừng cây nó mọc lên được. Nếu rừng cây không mọc lên được làm gì có bột giấy. Cho nên nhìn vào giấy mình thấy đám mây, phải nhìn thấy đám mây đang bay trong tờ giấy. Mà quý vị không cần phải là thi sĩ mới thấy được như vậy, quý vị chỉ cần làm thiền sinh thôi là đã có thể thấy được đám mây trong tờ giấy. Quý vị có thể lấy đám mây ra khỏi tờ giấy không?  Lấy đám mây ra thì tờ giấy sụp đổ không còn nữa, tờ giấy là một yếu tố trong những yếu tố, đám mây là một yếu tố trong những yếu tố làm ra tờ giấy. Lấy ra một yếu tố thì sự phát hiện của tờ giấy sẽ chấm dứt. Ở trong này có mặt trời, nếu không có mặt trời thì cây rừng làm sao mọc lên được? Cho nên với ngón tay tôi sờ tờ giấy và tôi sờ được mặt trời mà không có bị bỏng tay. Cố nhiên là lấy ánh sáng mặt trời ra khỏi tờ giấy, thì tờ giấy không còn nữa. Đó là những nhân duyên, đó là những điều kiện nó tụ hội với nhau để giúp cho tờ giấy biểu hiện. Chúng ta mới nhắc tới ba yếu tố thôi, là đám mây, là mặt trời, chúng ta phải nhắc rừng cây, tại vì không có rừng cây thì làm gì có giấy. Cho nên người tu nhìn vào tờ giấy thì thấy rừng cây. Và thấy gì nữa? Chúng ta thấy rất là nhiều, trong đó có đại địa. Có đất - nếu không có đất thì làm gì cây có thể mọc được? Cho nên sờ vào tờ giấy tức là sờ vào đất, sờ vào mưa, sờ vào đám mây, sờ vào mặt trời. Và nếu tiếp tục như thế, chúng ta sẽ thấy rằng tất cả vũ trụ đều có mặt trong tờ giấy. Cái một được làm bằng tất cả, đó là giáo lý của kinh Hoa Nghiêm.  Nhưng không phải lý thuyết, nếu chúng ta thực tập thiền quán, thì chúng ta chứng thực được sự thật, chứ không phải chúng ta chỉ nói triết học không mà thôi đâu. Vậy tờ giấy này nó có phải từ không mà trở thành có không? Không!  Trước khi nó là tờ giấy thì nó đã là rừng cây rồi, trước khi là tờ giấy thì nó đã là đại địa rồi, trước khi nó là tờ giấy thì nó đã là cơn mưa rồi.

 

Thành ra câu hỏi - Người thương của tôi chết rồi, tôi làm sao để tiếp xúc được với người đó? Câu hỏi đó không thể nào trả lời được, nếu mà chúng ta chưa nắm được bản chất, tự tính không có không không, không còn không mất, không sinh không diệt.

 

vô khứ vô lai

Bây giờ còn có một ý niệm nữa, chúng ta phải xem xét thì chúng ta mới có đủ điều kiện trả lời câu hỏi kia. Đây là một hộp diêm đem từ Paris qua, hộp diêm này nó hơi dài, có những que diêm khá dài. Chúng ta biết rằng hộp diêm là để giúp ta có lửa, thỉnh thoảng chúng ta đốt đèn nến, thỉnh thoảng chúng ta nấu bếp, chúng ta cần phải có lửa. Vậy bây giờ - đây không phải là triết học, đây là thiền quán - Tôi xin mời các vị tôn túc, các vị đạo hữu, các vị khách quý quán sát, cho biết rằng ngọn lửa nó nằm ở đâu, nó ẩn ở đâu, nó trốn ở đâu. Nó đang có hay là nó đang không có.. Mình biết bằng trực giác rằng ngọn lửa nó có đâu đó, nó trốn đâu đó, nó chưa xuất hiện thôi. Nhưng mà nói nó “không có” là không đúng, nó ẩn sau những điều kiện của nó, nó nằm tiềm tàng trong những điều kiện của nó. Nó trốn trong hộp diêm và nó trốn ở ngoài hộp diêm. Chúng ta biết rất rõ rằng ngoài hộp diêm có dưỡng khí, có oxy. Và ngọn lửa không thể nào biểu hiện được, nếu không có oxy, không có dưỡng khí. Nếu chúng ta lấy hết dưỡng khi đi thì ngọn lửa không bao giờ có thể “sống” được. Mà khi mà đèn đang cháy, chúng ta lấy một tờ giấy chúng ta đậy lại thì chỉ trong vòng nữa phút là hết oxy ở trong đó và ngọn lửa sẽ tắt. Cho nên biết rằng oxy, dưỡng khí là một trong những điều kiện căn bản để giúp cho ngọn lửa biểu hiện.

 

Trong đạo Phật, chúng ta có một nền tâm lý học gọi là Duy Thức học. Nhưng mà chữ duy thức học là dịch từ chữ Vijnaptimatra[3]. Mà chữ Vijnapti [4] thật ra nó có nghĩa là biểu, biểu hiện, chỉ có sự biểu hiện thôi. Ở trong “Duy Thức Tam Thập Luận” thì chữ Vijnapti ba bốn lần được dịch.  Một lần được dịch là Thức và ba bốn lần được dịch là Biểu, dịch là “biểu” nó đúng hơn. Cho nên các học giả bây giờ dịch là Duy Biểu luận là chỉ có sự biểu hiện thôi. Ngọn lửa nó không sinh, nó chỉ biểu hiện thôi. Tại vì “sinh” có nghĩa là từ “không” mà trở thành “có”, còn “biểu hiện” không có nghĩa như thế. Biểu hiện có nghĩa là từ thế ẩn tàng nó chuyển thành thế biểu lộ, thành ra chữ biểu hay hơn chữ sinh rất là nhiều.

 

Vậy ngoài hộp diêm, có sự ẩn náu của ngọn lửa. Ngọn lửa ẩn náu trong hai ngón tay tôi. Tại vì muốn cho ngọn lửa nó biểu hiện thì phải có một cử động. Cử động đó có thể do hai ngón tay này cung cấp. Vậy  nên ngọn lửa kia nó núp trong hộp diêm, nó núp ngoài hộp diêm và nó núp trong hai ngón tay của tôi. Và mình có thể nói chuyện với ngọn lửa, này ngọn lửa ơi, ta biết nhà ngươi có đó, nhà ngươi đừng có đánh lừa ta. Ta biết em có đó, em hãy biểu hiện đi, để cho chúng ta thấy. Em đừng có trốn mãi, ta cần em để ta  thắp một cây nến, em ở đâu, tại sao em không biểu hiện đi. Nếu chúng ta lắng tai, chúng ta sẽ nghe ngọn lửa nói như thế này - Thầy ơi!  Các thầy, các sư cô ơi, các Phật tử ơi! Con có đó nhưng mà con cần thầy, con cần các thầy, các sư cô giúp con một tay thì con biểu hiện được. Con cần một cử động. Ta hiểu, ta nói -  Được rồi, ngọn lửa ơi!  Bây giờ ta sẽ giúp em biểu hiện. Tất cả các điều kiện đều đầy đủ, chỉ còn một điều kiện chót nữa thôi là em có thể biểu hiện được, đó là động tác của hai ngón tay tôi. Và ngọn lửa thân yêu của chúng ta đã biểu hiện, đang biểu hiện và một lát nữa khi mà chất đốt không còn nữa thì nó sẽ ngưng sự biểu hiện của nó, phải không? Tại chất đốt là một trong những điều kiện nó giúp cho ngọn lửa biểu hiện. Bây giờ ngọn lửa đã ngưng biểu hiện. Bây giờ chúng ta đặt một câu hỏi, ngọn lửa thân yêu của ta ơi! em đã từ đâu tới và em đã đi về đâu? Đó là vấn đề khứ lai. Người thương của chúng ta cũng vậy, không biết từ đâu tới mà ta thương quá chừng. Rồi đến lúc bỏ chúng ta mà đi. Ta hỏi - Người thương của tôi ơi, em đã từ đâu tới và bây giờ em đi đâu rồi?  Em bỏ tôi!

 

Đó là những câu hỏi của kiếp người mà đức Thế Tôn cho chúng ta những câu trả lời bằng thiền quán. Nếu mình lắng tai nghe cho kỹ thì mình có thể nghe được tiếng trả lời, (nghe được) giọng nói của ngọn lửa. Thầy ơi, các thầy, các sư cô ơi, các vị Phật tử ơi! Con đâu có từ đâu tới đâu! Con không phải từ phương Nam tới, con cũng không phải từ phương Bắc tới. Con không phải từ phương Đông tới, mà con cũng không phải là từ phương Tây tới. Khi nào điều kiện nó hội tụ đầy đủ thì con biểu hiện thế thôi, bản chất của con là không tới. Mà mình nghe như vậy, mình biết là ngọn lửa nó nói đúng, bản chất của nó là vô lai -  không (có) tới. Thật sự nó không phải là từ phương Nam, từ phương Bắc tới. Người thương của mình cũng vậy, không phải là từ cõi này, hay cõi kia tới đâu. Luôn luôn có mặt đó, nhưng mà cần đầy đủ điều kiện mới phát hiện ra được, mới biểu hiện ra được. Khi những điều kiện đó không còn, thì ngưng sự biểu hiện thôi, chứ không có đi đâu hết. Bây giờ chúng ta hỏi ngọn lửa - Này ngọn lửa nhỏ bé thân yêu của ta ơi, em đi đâu rồi? Hồi nãy, ai cũng trông thấy em hết, bây giờ em đi đâu rồi? Thì chúng ta lắng nghe, chúng ta sẽ nghe được như thế này - Thầy ơi, các thầy, các sư cô ơi, các vị Phật tử ơi, con có đi đâu đâu, con không đi về phương Nam, cũng không đi về phương Bắc không đi về phương Tây, không đi về phương Đông, khi nào mà điều kiện không có đầy đủ nữa thì con ngưng biểu hiện thôi, con không có đi đâu hết.

 

Ngọn lửa đã nói rất là đúng, bản chất của ngọn lửa là không tới cũng không đi, vô khứ vô lai. Tự tính của vạn pháp là như thế, tự tính của của ngọn lửa là như thế, tự tính của đức Thế Tôn là vô khứ vô lai. Tự tính người thương của chúng ta cũng vậy. Người thương của chúng ta, không phải là từ một phương nào tới và sau khi ngưng biểu hiện, không phải là đi tới một phương nào khác đâu. Khi mình nắm được sự thật về bất sinh bất diệt, vô khứ vô lai, phi hữu phi vô, thì mình biết rằng mình đã có căn bản, đã có tuệ giác về thực tại. Và mục đích tối hậu của một người tu, của một người xuất gia hay là một người tại gia mà có thì giờ tu tập là để đạt tới đó, đạt tới gọi là vô sinh bất diệt, vô khứ vô lai, phi hữu phi vô, và đó gọi là Niết bàn.

 

Niết bàn

Niết bàn có nghĩa là sự vắng mặt của những ý niệm có và không, tới và đi, một và nhiều, sinh và diệt. Niết bàn có nghĩa là như thế. Niết bàn nằm trong lòng của tờ giấy, nằm trong lòng của đám mây, nằm trong lòng của ngọn lửa. (Niết Bàn) nằm trong lòng người thương của chúng ta. Niết bàn không phải là một “cái” mà chúng ta phải đi kiếm trong không gian và trong thời gian.

 

Sẽ thật là một điều rất đáng tiếc, nếu chúng ta đã xuất gia mà chúng ta không có thì giờ để quán chiếu về những đề tài như thế, tại vì chúng ta quá bận rộn trong những công tác mà chúng ta gọi là “Phật sự”!  Phật sự căn bản của người tu là phải tiếp xúc cho được tự tính Niết bàn không sinh, không diệt, không tới, không đi, không một, không khác, không còn, không mất. Khi đạt tới cái đó, ta có đức vô úy và ta có thể cỡi trên sóng sinh tử mà đi. Vừa đi, vừa mỉm cười như các vị Bồ Tát. Lúc đó, cái sinh cũng không động tới ta được, mà cái diệt cũng không động tới ta được và ta là một con người tự do.

 

Tuệ Trung Thượng Sĩ Trần Quốc Tung, anh ruột của tướng Trần Hưng Đạo, trong bài thơ Phóng Cuồng Ca đã kết thúc bằng một câu rất hay – “sinh tử tương bức hề ư ngã hà thương”. Cái sống và chết, cái sinh và cái diệt, nó bức bách nhau; Nhưng mà đối với tôi,  nó không còn có tác dụng gì nữa, nó không gây thương tích cho tôi nữa, tại vì tôi đã đạt tới chỗ không sinh và không tử. “Sinh tử tương bức hề ư ngã hà thương.” Không có động tới tôi được. Mục đích tối hậu của người tu là cái đó. Làm thế nào để trong đời sống hàng ngày, mỗi bước chân mình dẫm được vào cái “không-sinh-không-diệt”, mỗi hơi thở giúp cho mình tiếp xúc được với “không-sinh-không-diệt”. Mình trở thành ra (sự) tiếp nối rất đẹp đẽ của đức Thế Tôn.

 

Khi người thương của chúng ta không còn tiếp tục biểu hiện dưới hình thái quen thuộc nữa,  chúng ta khóc thương, chúng ta héo mòn là tại vì chúng ta bị kẹt vào ý niệm sinh và diệt, còn và mất. Còn nếu chúng ta tiếp xúc được với cái “không sinh không diệt”, “không còn không mất” thì tại sao chúng ta phải khóc thương phải tuyệt vọng? Cho nên sự thực tập quán chiếu rất là quan trọng, cầu nguyện chưa đủ, sám hối chưa đủ, cúng dường chưa đủ. Là người tu chúng ta có một kho tàng tuệ giác rất lớn. Nếu chúng ta không biết lợi dụng để nắm lấy kho tàng tuệ giác đó, chúng ta (chỉ) mới thừa hưởng được một phần bên ngoài của đạo Phật thôi. Phần quý giá nhất của đạo Phật là nguồn tuệ giác đó, chúng ta chưa nắm được.

 

tịnh độ hiện tiền

Tôi xin kể câu chuyện này của một bà cụ người Anh, rất là đơn sơ. Bà cụ người Anh, theo Anh (quốc) giáo. Bà tám mươi tuổi nhưng mà bà mạnh lắm, bà có sức khỏe. Bà là một người rất ham phục vụ cho hòa bình. Cho nên hồi mà chúng tôi thành lập phái đoàn Phật giáo Việt Nam bên cạnh hội nghị hòa bình Paris, bà tự nguyện phụng sự như một vị thư ký, viết (các) văn bản bằng tiếng Anh. Vào khoảng một ngàn chín trăm bảy mươi mấy đó, chúng tôi theo lệnh đức tăng thống Thích Tịnh Khiết, lập một phái đoàn đại diện cho giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất, ở tại hội nghị hòa bình Paris. Trụ sở của chúng tôi đặt tại số tám đường La Goutte d'Or. Nhưng chúng tôi không có tiền, nên chúng tôi thuê một văn phòng ở trên lầu thứ năm,  không có thang máy. Buổi sáng thầy trò phải leo năm tầng lầu và bà cụ đó tên là Heather [5] (?)  bà có sức khỏe khá lắm. Bà leo lên, leo xuống, nhiều lần trong ngày mà không sao hết. Bà thuộc về một tổ chức gọi là hội thân hữu hòa giải, bà rất ưa phục vụ cho hòa bình, và cũng vì lí do đó cho nên mình nhận bà, như một người tình nguyện tới làm không công cho văn phòng Phật giáo. Mỗi ngày, bà chỉ tiếp nhận ba bữa cơm chay thôi và một phòng nho nhỏ cho bà ngủ là đủ rồi, bà ăn chay trường.

 

Bà có một niềm tin rất là đơn giản, là khi mà bà chết, bà về ngay thiên đường, về ngay thiên quốc và bà sẽ gặp ông trở lại. Ông mất năm ông ba mươi tuổi và bà lúc đó hai mươi tám tuổi. Thì họ là một cặp vợ chồng rất là trẻ và người chồng mất năm ba mươi tuổi và người vợ không có tái giá, thương tiếc người chồng. Cái niềm tin đơn sơ như vậy đó, có thể gọi là ngây thơ nữa là khác. Bà cứ tin rằng khi mà chết một cái, lập tức bà về ngay thiên quốc, sẽ gặp ông và hai người sẽ được đoàn tụ trở lại. Cố nhiên mình có thể tưởng tượng được rằng ngày ông mất là bà khóc thương rất nhiều. Tôi biết chuyện đó lâu ngày nhiều tháng rồi nhưng mà tôi không có nói tới. Có một bữa đó sau khi ăn sáng xong, còn thì giờ, tôi mới hỏi bà một câu. Tôi muốn giúp bà vượt thoát niềm tin quá ngây thơ đó, để bà đi sâu vào một chút trong thiền quán. Tôi nói – Heather (?)   nếu bà về thiên quốc và bà gặp ông ba mươi tuổi và bà tám mươi mấy tuổi thì làm sao mà xứng đôi vừa lứa được. Liệu ông có nhận ra người thiếu nữ đẹp đẽ ngày xưa không, hay là ông sẽ nói đâu phải,  người thương của tôi đâu phải là bà, người thương của tôi là một cô thiếu nữ rất là xinh đẹp mới có hai mưới tám tuổi thôi,. Bà là ai mà bà dám nhận là người thương của tôi? Ít nhất, cũng phải chấp nhận sự thật về vô thường, từ hai mươi tám tuổi,  bây giờ bà đã tám mươi tuổi rồi, bà muốn gặp lại ông ba mươi tuổi thì bà phải tính toán trước chứ. Cũng như nhiều người trong chúng ta cứ tin rằng là khi mình về cõi cực lạc thế giới, được ngồi sát bên chân của Phật A Di Đà. Nhưng mà sức mấy, qua bên đó có các Bồ Tát lớn họ dành chỗ hết, họ ngồi xung quanh đức A Di Đà, mình sức mấy mà tới gần. Mình sẽ sinh ra buồn phiền, ganh tức. Ganh tức với các vị Bồ Tát. ganh tức cho đến (nỗi) mình nói - Thôi không thèm ở đây nữa, tôi trở về cõi Ta bà cho rồi, tưởng là qua đây bình đẳng có tình thương, nhưng mà qua đây thì cũng bất bình đẳng, chỗ xung quanh đức Thế Tôn các vị Bồ Tát lớn dành hết. Có những tín ngưỡng ngây thơ như thế, chúng ta phải quán chiếu. Tốt hơn hết là đừng có đợi sinh sang bên đó mới ngồi dưới chân ngài.  Chúng ta phải ngồi dưới chân ngài ngay bây giờ.  Chuyện đó có thể làm được. Ngày nào tôi cũng đi trong Tịnh Độ, ngày nào tôi cũng đi chơi với Bụt A Di Đà, Bụt Thích Ca hết. Chuyện đó là chuyện có thể làm được, hiện pháp tịnh độ, tịnh độ hiện tiền. Tiếp xúc với đức Bổn sư, với Bồ Tát Quan Thế Âm, với Bồ Tát Phổ Hiền là chuyện mình có thể làm được trong mỗi giây phút của đời sống hàng ngày không cần phải đi qua bên đó.  Bên đó là bên nào?

 

đời vốn là vô thường

Đạo Phật bắt đầu từ nhận xét về vô thường. Người thương của mình ngày xưa như vậy, ngày xưa mình cũng như vậy. Bây giờ mình thay đổi rồi thì người thương mình cũng thay đổ rồi, tại sao mình phải đi tìm hình bóng cũ? Tôi xin thú thật với quý vị, ở trong bốn mươi năm xa cách quê hương, thỉnh thoảng tôi có mơ về những khung trời cũ. Những khung trời mà trong đó mình đã trải qua, mình đã rong chơi. Trong đó, có khung cảnh của chùa xưa. Ngày xưa cách đây bốn mươi mấy năm, tôi có thành lập một chùa ở Phú Thọ Hòa gọi là chùa Pháp Vân, đó là trụ sở của trường Thanh Niên Phụng Sự Xã Hội mà chính tay tôi vẽ ra kiểu chùa, chùa làm bằng lá, lợp tranh và làm bằng tre khá đẹp. Tôi đã sống tại đó mấy năm, hơn một năm với các thầy, các sư cô trẻ, các tác viên trường Thanh Niên Phụng Sự Xã Hội. Chúng tôi đã có những ngày rất là êm đẹp, những ngày có tình huynh đệ, có tình thầy trò. Chính ở nơi đó tôi đã truyền giới Tiếp Hiện cho những người Tiếp Hiện đầu tiên. Cũng như tôi đã từng ở Đà Lạt, chùa Linh Quang và tôi có những hình ảnh đẹp về chùa Linh Quang. Thỉnh thoảng tôi cũng mơ về chùa Linh Quang ở Đà Lạt. Bốn mươi năm, được trở về, tôi khám phá ra rằng những hình ảnh mà mình nâng niu, mình trân quý trong đầu nó không còn nữa. Chùa Pháp Vân, ngày xưa chung quanh là ruộng, là lũy tre, là làng mạc. Bây giờ hoàn toàn không có một cái gì hết như ngày xưa, thành phố sát tới gần và mình không có nhận ra cái gì của ngày xưa nữa hết. Mình đi tìm quá khứ, chỉ có thể tìm thấy trong ký ức thôi, đời vốn là vô thường. Chùa Linh Quang ở Đà Lạt cũng vậy, tôi về, tôi hỡi ơi,  không có giống gì ngày xưa hết, hoàn toàn thay đổi. Trong khi đó thì trong bốn mươi năm mình cứ ngỡ rằng chỗ đó vẫn là chổ đó, khung cảnh đó vẫn là khung cảnh đó và những người ngày xưa họ vẫn là những ngày ngày xưa.

 

Ở Nha Trang, có một vị hòa thượng tên là hòa thượng Thiện Bình, ngày xưa ở Phật học viện Báo quốc thì đó là một sư chú rất là kháu khỉnh, hai cái má phúng phính, mình nhìn mình muốn cắn một miếng. Luôn luôn mình gọi là em, và vị đó gọi mình là anh một cách rất là ngọt ngào, bây giờ gặp lại là một vị đại lão hòa thượng, không có giống gì với chú bé kháu khỉnh ngày xưa nữa. Hầu hết những người của thế hệ tôi đã chết đi rồi, chỉ còn lại một vài người thôi, mà vài người đó không có giống ngày xưa gì hết! Thành ra tôi phải quán chiếu mới sống được, tôi ngồi trước mặt các thầy, các sư chú, các sư cô trẻ đã sinh ra trong thời gian tôi văng mặt tại quê hương. Tôi ngồi nhìn những thanh niên, thiếu nữ, tới hàng ngàn người, những người này phần lớn đều đã sinh ra trong thời gian tôi vắng mặt tại quê hương, tôi nhìn họ tôi phải quán chiếu và tôi thấy được phụ huynh của họ, bổn sư của họ. Nhờ thế, tôi cảm thấy rất là gần gũi, rất là thân thiết, nếu không thì rất là xa lạ. Thành ra vô thường là dấu ấn đầu tiên của thực tại và bà Heather (?)  đi vào đạo Phật bằng cửa ngỏ vô thường. Khi mình đã chấp nhận được vô thường thì mình có cơ hội chấp nhận được vô ngã. Chấp nhận được vô ngã thì mình có thể đi từ từ  tới chuyện không sinh không diệt, không tới không đi, phải đi từ từ như vậy mới được. Và cuộc hành trình của người tu là hành trình của sự quán chiếu. Khi chúng ta có được tuệ giác đó thì chúng ta sẽ bất động, sẽ vững chãi, sẽ tự do và không bị thao túng bởi những nhớ thương, những tiếc nuối, những lo sợ của người không tu nữa.

 

 

hãy buông bỏ đi!

Trong khóa tu dành cho các cựu chiến binh Hoa Kỳ ở tại California. Có một cựu chiến binh Hoa Kỳ giữ bên mình một kỷ vật mà ông không thể nào buông ra được. Đó là một cái võng bằng nylon của một cô nữ du kích Việt Nam. Cô nữ du kích đó đã sống trong rừng nhiều ngày, nhiều tháng, đã ăn gạo rang và uống nước suối để kháng chiến. Ban đêm cô giăng cái võng nylon của cô giữa hai cây để ngủ và cô mang theo cái võng đó. Trong một trân đánh, cô bị thương và người lính Mỹ đó mới vác cô lên trên trực thăng, đem về căn cứ quân sự Mỹ để cứu chữa và bắt làm tù binh. Nhưng trên trực thăng, vết thương của cô quá nặng và cô tắt thở trên trực thăng. Cái giây phút cuối của người nữ du kích đó đã làm chấn động người lính Hoa Kỳ. Ông ta thấy cô sắp chết và cô nhìn ông bằng cái nhìn căm hờn, oán trách. Nó có nghĩa là tại sao các ông lại qua chiếm nước chúng tôi làm gì? Đánh giết chúng tôi làm gì? Cái nhìn đó nó có nghĩa như thế. Cái nhìn đó nó ám ảnh người chiến binh Hoa Kỳ trong bao nhiêu năm. Cho nên chiếc võng bằng nylon mà cô mang theo, ông giữ làm kỷ vật, ông không có rời chiếc võng đó ra nữa. Ông sống sót, trở về Mỹ, đi tìm công ăn việc làm. Ông sống, nhưng mà ông không bao giờ rời chiếc võng đó, luôn mang theo bên mình. Khi ông tới ghi tên tham dự khóa tu mà mình tổ chức cho những người cựu chiến binh thì ông có mang theo cái võng đó. Trong khóa tu, thì mình cũng dạy cho người ta tập thở, tập đi thiền hành, tập làm lắng dịu những căng thẳng, những đau nhức trong thân và trong tâm, tập nhận diện những nỗi khổ niềm đau, làm cho nó lằng dịu lại. Nhất là tập nói, tập nói ra được tất cả những khổ đau những kỷ niệm, những cơn ác mộng của mình, cho nó lắng dịu bớt. Trong một buổi lắng nghe, ông ta kể được câu chuyện nói về cô nữ du kích và chiếc võng đó, ông trình bày chiếc võng đó ra cho chúng tôi coi, chiếc võng rất là nhỏ. Ngày chót của khóa tu, chúng tôi làm một bàn thờ linh. Chúng tôi nói rằng -  các vị, nếu các vị đã giết một người, đã giết hai người, đã giết mười người, đã giết hai chục người, đã giết quá nhiều người,… thì quý vị làm những bài vị của những người mà quý vị đã giết, dán lên bàn thờ tập thể này. Nếu không biết tên những người mình giết thì để chữ là – “Một người tôi đã giết”,  “mười người tôi đã giết”. Tôi còn nhớ buổi đó, tôi đã gia trì tịnh thủy, tôi đã rải cho đạo tràng, tôi đã rải nước cam lồ tịnh thủy lên đầu tất cả những cựu chiến binh Hoa Kỳ tham dự ở đó, đã đọc kinh, đã cho họ được phép tới bắt tay, tới ôm những người Việt, để tỏ sự ăn năn hối hận đã gây những khổ đau chết chóc cho đất nước Việt Nam, cho dân tộc Việt Nam. Cuối cùng, chúng tôi tổ chức thiền hành đi ra bờ hồ, và chúng tôi rước bàn linh đó đi theo. Tới nơi, chúng tôi tụng kinh, và chúng tôi hỏa thiêu bàn linh đó. Khi đống lửa bắt đầu cháy, tôi mới tới người cựu chiến binh Hoa Kỳ đó, tôi nói - Cái võng của anh đâu, anh liệng vào trong đống lửa đi. Anh ta nhất định không. Người ta bám víu vào không những là những kỷ niệm hạnh phúc mà bám víu vào luôn những kỷ niệm đau khổ và cái võng đó giống như là ông buông ra thì ông cũng chết luôn. Cho nên ông ta giữ riết và không có chịu buông ra, chừng mười phút sau tôi tới tôi nói - Nếu anh không buông bỏ, anh sẽ tiếp tục đau khổ suốt đời, hãy buông bỏ đi! Hãy đưa cho tôi, tôi sẽ liệng nó vào trong đống lửa. Cuối cùng, ngập ngừng, anh ta đã đưa cho tôi và tôi đã liệng cái võng đó vào trong đống lửa. Tất cả đều niệm danh hiệu của đức Quan Thế Âm “Nam mô Avalokistesvara”. Tôi cảm thấy rõ ràng là hương linh của cô nữ du kích được siêu thăng mà tâm lý của người cựu chiến binh Hoa Kỳ cũng được tháo gỡ. Rất là mầu nhiệm, Phật Pháp cao siêu mầu nhiệm cứu độ cho tất cả mọi loài, mọi người, dầu đó là kẻ thù cũ của mình. Trong giây phút đó, người cựu chiến binh Hoa Kỳ đã hòa giải được với cô nữ du kích năm xưa, hai bên đều được thừa hưởng giọt nước cam lồ của đức Thế Tôn.

 

l quy y cho các hương linh

Ngày mai, đúng năm giờ, chúng ta sẽ có ngồi thiền ở đây. Sau ngồi thiền, sẽ đi thiền hành như ngày hôm nay, sinh hoạt. Xin mời các thầy, các sư cô và các Phật tử cùng tới tham dự. Chúng ta sẽ thở cho các hương linh. Chúng ta sẽ bước những bước chân vững chãi, thảnh thơi để có thể về để có thể tới. Chúng ta để cho các hương linh mượn chân của chúng ta để thực tập, để họ cũng có thể về và tới trong từng bước chân, từng hơi thở. Sự thành công của các vị hương linh tùy thuộc vào sự thành công của chúng ta, chúng ta thật sự phải có Niệm, Định và Tuệ. Bây giờ đây, tôi xin mời đại chúng hộ niệm để chúng ta làm l quy y cho các hương linh vừa tới chiều hôm qua và sáng hôm nay. Chúng ta phải thấy được sự có mặt của các hương linh, của các loại cô hồn đang sinh hoạt với chúng ta. Hồi nãy giờ họ cũng nghe chúng ta thuyết pháp, họ cũng tiếp xúc được với giáo pháp của đức Thế Tôn.

 

Xin đại chúng lắng nghe, xin các vị hương linh và các loại cô hồn lắng nghe.

Hôm nay chúng ta tập hợp để chứng minh và hộ niệm cho lễ quay về nương tựa tam bảo của các vị hương linh và chư vị cô hồn. Xin đại chúng theo dõi hơi thở và an trú trong chánh niệm, khi nghe ba tiếng chuông gia trì. Tiếng chuông là tiếng gọi của đức Thế Tôn để mọi người trở về trong trạng thái tỉnh thức, có mặt thật sự trong giây phút hiện tại.

Xin tất cả các hương linh và các loại cô hồn đứng dậy, chắp tay búp sen trình diện trước Tam bảo. Hôm nay đại chúng vân tập để chứng minh và hộ niệm cho các hương linh trong lễ phát nguyện thọ trì và quy y Tam bảo. Các hương linh lắng nghe là người có duyên với đạo pháp, quý vị đã thấy rõ con đường của tình thương và sự hiểu biết mà tổ tiên chúng ta đã đi theo trong bao nhiêu thế hệ. Và hôm nay quý vị lại có cơ duyên phát tâm quy y Tam bảo. Các vị hương linh, chư vị cô hồn quy y Tam bảo là quay về nương tựa nơi Phật, nơi Pháp và nơi Tăng. Phật Pháp và Tăng là ba viên ngọc quý.

Quay về nương tựa nơi Phật là quay về nương tựa nơi bậc tỉnh thức, có khả năng đưa đường chỉ lối cho ta trong đời này và trong đời kế tiếp. Quay về nương tựa Pháp là quay về với con đường của trí tuệ và từ bi, nghĩa là con đường của hiểu biết và của thương yêu. Quay về nương tựa Tăng là quay về nương tựa nơi đoàn thể của những người đang thực tập theo con đường của trí tuệ và từ bi và sống trong tỉnh thức.

Phật, Pháp và Tăng có mặt trong mười phương thế giới mà cũng có mặt trong mọi người, mọi loài. Quay về nương tựa nơi Phật, nơi Pháp và nơi Tăng cũng có nghĩa là tin tưởng vào khả năng giác ngộ nơi tự tính mình và khả năng khai mở và phát triển hiểu biết và thương yêu nơi bản thân mình và khả năng thực tập hành đạo của cá nhân và của đoàn thể mình.

Xin các vị hương linh, chư vị cô hồn đọc theo thầy để phát ba lời nguyện lớn, xin đại chúng hộ niệm cho chư hương linh và đọc theo cùng một lượt với hương linh.

“Con về nương tựa Phật, người đưa đường chỉ lối cho con trong cuộc đời.

Con về nương tựa Pháp, con đường của tình thương và sự hiểu biết.

Con về nương tựa Tăng, đoàn thể của những người nguyện sống cuộc đời tỉnh thức.

Đã về nương tựa Phật, con đang có hướng đi sáng đẹp trong cuộc đời.

Đã về nương tựa Pháp, con đang được học hỏi và tu tập các pháp môn chuyển hóa.

Đã về nương tựa Tăng, con đang được tăng thân soi sáng dìu dắt và nâng đỡ trên con đường thực tập.

Về nương Phật trong con, xin nguyện cho mọi người thể nhận được giác tính, sớm mở lòng bồ đề.

Về nương Pháp trong con, xin nguyện cho mọi người nắm vững các pháp môn, cùng lên đường chuyển hóa.

Về nương Tăng trong con, xin nguyện cho mọi người xây dựng nên bốn chúng, nhiếp hóa được muôn loài.

Hương linh đã tạo ra nghiệp xấu cũng vì tâm niệm tham sân si do thân miệng ý phát sinh ra, tất cả hương linh đều sám hối.

Cô hồn đã tạo ra nghiệp xấu cũng vì tâm niệm tham sân si do thân miệng ý phát sinh ra, tất cả cô hồn đều sám hối.

Nam mô Bồ Tát Cầu Sám Hối (3)”

“Con đã gây ra bao lầm lỡ,
khi nói, khi làm, khi t
ư duy,
đam mê, hờn giân và ngu si.
Nay con chí thành xin sám hối.
Một lòng con cầu Phật chứng tri.
Bắt đầu hôm nay nguyện làm mới.
Nguyện sống đêm ngày trong chánh niệm.
Nguyện không lặp lại lỗi lầm xưa.

Nam mô Bồ Tát Cầu Sám Hối (3)”

 

Truyền giới cho hương linh

Các vị hương linh các vị cô hồn, bây giờ tôi xin tuyên đọc năm giới. Những người quy y và thọ trì năm giới là những người được Bụt Pháp và Tăng che chở, chắc chắn được chuyển hóa và siêu thăng. Đây là nội dung của năm giới xin các vị hương linh xin các vị cô hồn lắng nghe và hành trì.

 

Giới thứ nhất bảo hộ sinh mạng, ý thức được những sự khổ đau do sự sát hại gây ra, con xin học theo hạnh đại bi để bảo vệ sự sống của mọi người và mọi loài. Con nguyện không giết hai sinh mạng, không tán thành sự giết chóc và không để kẻ khác giết hại dù là trong tâm tưởng hay trong cách sống hàng ngày của con. Đó là giới thứ nhất bảo hộ sinh mạng, xin các hương linh xin các giới cô hồn tiếp nhận để hành trì.

 

Đây là giới thứ hai của năm giới: Ý thức được những khổ đau do lường gạt, bất công xã hội gây ra, con xin học theo hạnh đại từ để đem niềm vui sống và an lạc cho mọi người, mọi loài. Để chia sẽ thì giờ, năng lực và tài vật của con với những kẻ đang thật sự thiếu thốn. Con nguyện không lấy làm tư hữu bất cứ một của cải nào không phải do mình tạo ra. Con nguyện tôn trọng quyền tư hữu của kẻ khác. Nhưng cũng nguyện ngăn ngừa kẻ khác không cho họ tích trữ và làm giàu một cách bất lương trên sự đau khổ của con người và của muôn loài. Đây là giới thứ hai của năm giới quý báu, nguyện không trộm cắp, không lấy làm tư hữu bất cứ một của cải nào không phải do mình tạo ra. Xin các vị hương linh xin các giới cô hồn tiếp nhận để hành trì.

 

Đây là giới thứ ba của năm giới quý báu. Ý thức được những khổ đau do thói tà dâm gây ra con xin học theo tinh thần trách nhiệm để giúp bảo vệ tiết hạnh và sự an toàn của mọi người và mọi gia đình trong xã hội. Con nguyện không ăn nằm với những người không phải là vợ hay chồng của con. Con ý thức rằng những hành động bất chính sẽ gây ra những đau khổ cho kẻ khác và cho chính bản thân con. Con biết muốn bảo vệ hạnh phúc của mình và của kẻ khác thì phải biết tôn trọng những cam kết của mình và của kẻ khác. Con sẽ làm mọi cách có thể để bảo vệ trẻ em, không cho nạn tà dâm tiếp tục gây nên sự đổ vỡ của các gia đình và của đời sống đôi lứa. Đây là giới thứ ba của năm giới quý báu, không tà dâm, bảo vệ cho các lứa đôi và bảo vệ cho trẻ em. Xin các vị hương linh xin các giới cô hồn tiếp nhận để hành trì.

 

Đây là giới thứ của năm giới quý báu. Sử dụng ái ngữ và phương pháp lắng nghe. Ý thức được những khổ đau do lời nói thiếu chính niệm gây ra, con xin học theo hạnh ái ngữ và lắng nghe, để dâng tặng niềm vui cho người và làm vơi bớt khổ đau của người. Biết rằng lời nói có thể đem lại hạnh phúc và khổ đau cho người, con nguyện chỉ nói những lời có thể gây thêm niềm tự tin an vui và hy vọng. Những lời chân thật có giá trị xây dựng hiểu biết và hòa giải. Con nguyện không nói những điều sai với sự thật, không nói những lời gây chia rẽ và căm thù. Con nguyện không loan truyền những tin mà con không biết chắc là có thật. Không phê bình và lên án những điều con không biết rõ. Con nguyện không nói những điều có thể tạo nên sự bất hòa trong gia đình và trong đoàn thể, những điều có thể làm tan vỡ gia đình và đoàn thể. Đây là giới thứ tư của năm giới quý báu thực tập lắng nghe và ái ngữ. Xin các vị hương linh và các giới cô hồn tiếp nhận để hành trì.

 

Đây là giới thứ năm của năm giới quý báu: Tiêu thụ trong chính niệm. Ý thức được những khổ đau do sự sử dụng ma túy và các độc tố gây ra. Con xin học cách chuyển hóa thân tâm, xây dựng sức khỏe thân thể và tâm hồn bằng cách thực tập chính niệm trong việc ăn uống và tiêu thụ. Con nguyện chỉ tiêu thụ những gì có thể đem lại an lạc cho thân và tâm con và cho thân tâm gia đình và xã hội con. Con nguyện không uống rượu, không sử dụng các chất ma túy, không ăn uống hoặc tiêu thụ những sản phẩm có độc tố, trong đó có một số sản phẩm truyền thanh, truyền hình, sách báo, phim ảnh và chuyện trò. Con biết rằng tàn hoại thân tâm bằng rượu và các độc tố ấy là phản bội tổ tiên cha mẹ và cũng là phản bội các thế hệ tương lai. Con nguyện chuyển hóa bạo động, căm thù, sợ hãi và buồn giận bằng cách thực tập phép kiêng cử cho con, cho gia đình con và cho xã hội. Con biết pháp kiêng khem này rất thiết yếu để chuyển hóa tự thân tâm thức cộng đồng và xã hội. Đây là giới thứ năm của năm giới quý báu, không sử dụng rượu, các chất ma túy và các sản phẩm có độc tố. Xin các vị hương linh và chư vị cô hồn tiếp nhận để hành trì.

 

Nói với hương linh

Xin các vị hương linh, xin các giới cô hồn lắng nghe.

Kính thưa liệt vị hương linh, quý vị là cha chúng tôi, quý vị là chồng của chúng tôi, quý vị là anh trai chúng tôi, quý vị là em trai của chúng tôi, quý vị là con trai của chúng tôi, quý vị cũng là mẹ của chúng tôi, quý vị cũng là vợ của chúng tôi, là chị gái của chúng tôi, là em gái của chúng tôi, là con gái của chúng tôi. Trong cơn binh lửa, trong cảnh tao loạn, quý vị đã bỏ lại hình hài quý giá của quý vị mà đi, chúng tôi đã đánh mất quý vị. Quý vị hoặc đã chiến đấu dũng cảm cho đất nước và đã chết một cách hào hùng không hề thương tiếc thân mạng, chúng tôi rất hãnh diện về quý vị. Nhưng quý vị có thể cũng đã bỏ mình trong những hoàn cảnh cực kỳ bi thương, nỗi oan khổ không thể nào nói lên được. Trên rừng sâu, trong biển cả, nơi chốn tù đày, chết vì bom đạn hoặc vì kiệt sức hoặc vì bị bức bách, bị hãm hiếp rồi bị sát hại mà không có phương tiện chống cự lại. Có biết bao nhiêu quý vị đã ngã quị mà nắm xương tàn không biết đang được chôn vùi ở đâu. Những tai ương mà đất nước và dân tộc ta phải chịu đựng trong bao nhiêu năm tranh đấu cho độc lập và cho tự do, chính quý vị là người phải gánh chịu nhiều nhất.

 

Chúng tôi những người thân thuộc và đồng bào của quý vị hôm nay tới đây thắp hương tưởng niệm quý vị hoặc thiết lập bàn thờ cho quý vị trước hiên nhà. Trong chúng tôi cũng có những người vẫn còn tiếp tục gánh chịu oan khổ. Nhưng may thay cơn ác mộng đã qua, đất nước đã được hòa bình, dân tộc đang có cơ hội xây dựng kiến thiết trở lại. Nhờ phúc đức tổ tiên, chúng tôi hôm nay mới có cơ hội đến với nhau một cách chính thức, chắp tay nguyện cầu Tam bảo, nhờ pháp lực gia trì, thỉnh cầu tất cả liệt vị trở về đoàn tụ. Cũng nhau cầu nguyện để giải trừ nghiệp cũ, mở ra một vận hội mới, nhìn nhận nhau, ôm lấy nhau, thương lấy nhau như đồng bào ruột thịt, không còn phân biệt Bắc Nam, gái trai, già trẻ, chủng tộc, tôn giáo, đảng phái và ý thức hệ. Tất cả chúng ta đều là đồng bào của nhau, gặp vận nước ruổi ro, trên đường tranh đấu cho độc lập cho tự do, bị dồn vào thế đối lập nhau, vì tự vệ mà phải chống đối nhau. Nhưng phúc đức tổ tiên để lại vẫn còn cho nên hôm nay tất cả chúng ta mới được về lại với nhau để nhìn nhận nhau như con một nhà, để cùng hứa với nhau là sẽ học cho thật thuộc bài học của đau thương trong quá khứ.

 

Nguyện từ nay về sau không để cho đất nước bị chia cắt một lần nào nữa, nguyện từ nay về sau khi có khó khăn nội bộ sẽ không nhờ đến bất cứ một thế lực ngoại bang nào can thiệp nữa. Nguyện từ nay về sau sẽ không khởi xướng một cuộc chiến tranh ý thức hệ nào nữa. Nguyện từ nay về sau sẽ không sử dụng vũ khí bên ngoài để tranh đấu với nhau nữa. Nguyện từ nay về sau nỗ lực xây dựng một xã hội thật sự dân chủ để có thể giải quyết tất cả mọi bất đồng bằng những phương thức hòa bình dân chủ mà không sử dụng đến những phương tiện tranh đấu bạo động giữa người đồng bào với nhau.

 

Lạy chư vị tổ tiên huyết thống và chư vị tổ tiên tâm linh của chúng con chứng minh, trước mặt quý ngài chúng con xin kính cẩn phát nguyện như thế. Và chúng con biết rằng một phen đã phát nguyện được như thế thì mọi oan ức đau khổ sẽ được hoàn toàn giải tỏa. Và những vết thương hằn sâu trong tất cả mọi chúng con sẽ bắt đầu được chữa lành.

 

Hôm nay đại trai đàn chẩn tế bình đẳng giải oan được thành lập, mọi nhà đều có thiết lập bàn thờ cầu nguyện. Chúng con ngưỡng nguyện ơn trên tam bảo độ thoát cho tất cả mọi hương linh, mọi cô hồn để tất cả được nương vào pháp lực vô song mà được chuyển hóa và siêu thăng.

 

Kính thưa các vị hương linh, chúng tôi và các con cháu nguyện sẽ lên đường tiếp tục chí hướng của liệt vị hương linh. Chúng tôi nguyện mang quý vị trong trái tim để đi về hướng tình huynh đệ và nghĩa đồng bào. Chúng tôi luôn luôn nhớ rằng bầu và bí đều có thể leo chung một giàn và gà cùng một mẹ không nên bao giờ bôi mặt đá nhau. Và tuệ giác đó của tổ tiên sẽ soi đường chỉ lối cho con cháu chúng ta bây giờ và mãi mãi.

 

Mời đại chúng niệm Bụt Thích Ca Mâu Ni.

Nam Mô Bụt Thích Ca Mâu Ni.


 

[1] Chép lại theo băng ghi âm, tựa và chú thích của người biên dịch

[2] A-dục vương (阿育王, Ashoka) (304 BCE232 BCE) hoàng đế của đế quốc Maurya Empire, gồm vùng Nam Á, Bắc từ Afghanistan Tây đến Bengal, Nam đến tận Mysore của bán đảo Ấn Độ

[3] Vijnaptimatra : "Conscious only", hay Vijnanavada: "The doctrine of consciousness".

[4] Vijnapti: manifest, biểu hiện 

[5] Ghi lại – chưa có dịp kiểm chứng tên người  -  Heather Queenbeth ?

 

LÊN TRÊN=  |     GỬI BÀI     |     LIÊN LẠC     |     LÊN TRÊN=

Phù Sa được thực hiện bởi nhóm PSN (Phù Sa Network). 
Là tiếng nói của người Việt Tự Do trong và ngoài nước nhằm phát huy khả năng Hiểu Biết và Thương Yêu để bảo vệ và thăng hoa sự sống.
PSN không loan tin thất thiệt, không kích động hận thù, và bạo lực.  Không chủ trương lật đổ một chế độ, hay bất kỳ một chính phủ nào.