|
Cởi mở bao
dung, buông bỏ thái độ giáo điều
Giấc mơ Việt Nam là người Việt dù theo một
truyền thống tâm linh hay tôn giáo nào, dù có tín mộ cách mấy
vào truyền thống ấy, cũng không có thái độ coi thường và chê bai
những truyền thống khác, cũng không bao giờ tự cho mình là đã
nắm được chân lý còn những kẻ khác là những kẻ đang đi lạc
đường. Cũng như khi ta rất thích ăn một loại trái cây như trái
xoài, ta không nghĩ rằng chỉ có xoài là ngon, là đáng ăn, còn
những trái cây khác không có giá trị, cần phải vứt bỏ... Cũng
như khi ta cho cơm Việt là ngon, ta không chê cơm Tàu, cơm Tây,
cơm Ý là dở. Mỗi truyền thống có những đặc sắc của họ, và trong
khi ta theo một truyền thống ta vẫn có thể học hỏi và thừa hưởng
được những cái hay cái đẹp của các truyền thống khác. Khi ta tu
Thiền, ta không mạt sát Tịnh Độ; khi ta tu Tịnh Độ, ta không mạt
sát Thiền. Nếu một người con trai Cơ Đốc giáo đã yêu một cô gái
Phật giáo, người con trai ấy không bắt người yêu của mình phải
bỏ Phật giáo. Trái lại người con trai ấy để cho người yêu của
mình tiếp tục thực tập theo truyền thống Phật giáo, và mình cũng
bắt đầu học hỏi và tham dự vào những sinh hoạt tâm linh của
người mình yêu, như đi chùa, nghe Pháp, dự khóa tu, ngồi thiền,
dự ngày chánh niệm, thực tập sám hối. Và người mình yêu cũng sẽ
không bắt mình theo đạo Bụt, trái lại, người mình yêu cũng đi
nhà thờ với mình và bắt đầu học hỏi những gì hay và đẹp trong
truyền thống Cơ Đốc của mình. Thay vì có một gốc rễ tâm linh, ta
có tới hai gốc rễ, và hai cái ấy không cần phải đối kháng nhau.
Bụt Thích Ca là một vị đạo sư, chúa Ki Tô cũng là một vị đạo sư.
Ta có thể học được rất nhiều từ cả hai vị. Ta chỉ tiếp nhận và
học hỏi được những gì mà ta có thể tiếp nhận và học hỏi, và ta
có thể bỏ ra ngoài những gì ta cho là đã được thêm thắt vào sau,
không thực sự thiết yếu trong sự hành trì. Ví dụ học Phật, ta có
thể đem áp dụng tứ diệu đế, bát chánh đạo, tam pháp ấn, tứ niệm
xứ, v.v..., vào đời sống hàng ngày của ta. Ta không cần phải tin
những chuyện như thái tử Siddhartha sinh ra từ phía hông phải
của hoàng hậu Ma-gia và khi mới sanh đã có thể bước đi bảy bước
và tuyên bố : 'Trên trời dưới đất chỉ có mình ta là tôn quý hơn
cả.' Ta có thể cho những chi tiết ấy là không quan trọng, là do
người đời sau thêm thắt vào. Còn khi ta đọc Phúc Âm, ta cũng chỉ
cần học những đạo lý mà đức Ki Tô dạy trong đời sống hàng ngày
và trong cách tiếp xử, mà không bắt buộc phải tin rằng đức Maria
là mẹ đồng trinh, rằng Thượng Đế có hình dáng con người, nắm hết
quyền quyết định và thưởng phạt... Thomas Jefferson, người đã
soạn thảo bản Tuyên Bố Độc Lập của Hiệp Chủng Quốc và cũng là
tổng thống Hoa Kỳ từ 1801 đến 1809, đã đọc Phúc Âm (ấn bản King
James) theo tinh thần đó, đã loại ra những gì tạp nhạp mà người
sau thêm thắt vào trong Thánh Kinh, và đã giữ lại những tinh túy
của giáo lý do đ ức Ki Tô truyền dạy để làm ra cuốn The Life
and Morals of Jesus of Nazareth, sau này được người ta gọi
là Jefferson Bible.
Tổng thống Jefferson
bắt đầu làm công việc này trong nhiệm kỳ tổng thống đầu của ông,
và mỗi đêm, sau khi công việc trong ngày đã được hoàn tất. Cũng
giống như vua Trần Thái Tông tuy bận rộn chính sự ban ngày, ban
đêm vẫn để thì giờ nghiên cứu Phật học và tọa thiền. Bản thảo
của cuốn thánh kinh này được tổng thống sử dụng để hành trì, và
tổng thống cũng đã có thì giờ dịch nó ra thành tiếng La tinh và
tiếng Pháp. Bản thảo này phải đợi đến năm 1904 mới được buổi họp
quốc hội thứ 57 cho lệnh đem đi xuất bản, và mỗi nghị sĩ và
thượng nghị sĩ trong quốc hội Hoa Kỳ đã được tặng cho một cuốn.
Trong một lá thơ gởi
cho bạn là John Adams mười năm sau đó, ngày 24.1.1814, tổng
thống tâm sự với bạn tại sao ông phải 'lọc lại' thánh kinh như
thế. Ông viết: 'Trong Phúc Âm, rõ ràng là có những đoạn những
phần nói lên được tinh thần của một con người phi thường, còn
những đoạn khác phần khác là do những bộ óc rất hạ liệt thêm
vào. Chọn lấy những phần thật và loại bỏ những phần giả ra
ngoài, công việc này cũng dễ như nhặt những hạt kim cương từ một
đống rác'. Nếu ta biết làm như Thomas Jefferson, ta có thể học
hỏi và thừa hưởng được từ bất cứ truyền thống tâm linh nào, và
vì vậy ta không còn chống đối hay kỳ thị một truyền thống nào
khác, trái lại ta có thể giúp cho việc thanh lọc được truyền
thống của chính ta và giúp cho các bạn của những truyền thống
khác thanh lọc được truyền thống của chính họ. Thái độ cởi mở và
bao dung này đưa tới sự xây dựng tình huynh đệ, xóa bỏ mọi kỳ
thị, và đây là công tác căn bản cho hòa bình thế giới.
Bao nhiêu cặp thanh
niên đã sa vào tình trạng bế tắc tuyệt vọng, bao nhiêu thanh
niên đã tự tử cũng vì thái độ giáo điều và hẹp hòi đó, cho nên
chúng ta phải mở cho họ một con đường thoát. Tại Đạo Tràng Mai
Thôn nơi tôi cư trú, các bạn gốc Do Thái Giáo, Tin Lành, Công
Giáo, Anh Giáo, Ấn Độ Giáo, và cả Hồi Giáo nữa, đã đến thực tập
và sống chung trong tinh thần này. Có những vị linh mục Công
giáo ngồi thiền rất giỏi, có những vị mục sư Tin Lành thuyết
pháp rất hay, có vị đã từng tiếp nhận năm giới và ba quy nhưng
không thấy điều này có gì chống đối với giáo lý Ki Tô đích thực.
Các thầy và các sư cô của đạo tràng Mai Thôn cũng có học Phúc Âm
như họ đã học khoa học, và họ cũng đã từng đi tham dự những sinh
hoạt tu tập và trao đổi tại các tu viện Cơ Đốc giáo ở Pháp, ở
Hoa Kỳ và ở nhiều nước Âu Châu khác.
|