.

PSN
BỘ MỚI 2009
HỘP THƯ

                          TRANG CHÍNH

Ngươi không phải là một tạo sinh, mà là sự biểu hiện
 CHƯƠNG MỤC

Tư Tưởng

Văn hóa

n Học

Diễn Đàn

Ký Sự - Xã Hội

Khoa Học & Môi Trường

Việt Nam trong dòng thời sự

Đạo Bụt trong dòng văn hóa Việt

Giữ thân cho mẹ - Giữ nước cho cha

 TƯ LIỆU

Công Ước Quốc Tế Về Những Quyền Dân Sự và Chính Trị

Công Ước Quốc Tế Về Những Quyền Kinh Tế, Xã Hội và Văn Hóa

Bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền

Nguyên Tắc Của Nền Pháp Quyền

Thế Nào Là Dân Chủ ?

Các Vấn Ðề Dân Chủ

 TỦ SÁCH

Sophie Quinn-Judge: Hồ Chí Minh những năm chưa được biết đến

Vũ Hữu San: Địa lý Biển Đông với Hoàng Sa và Trường Sa

Lê Minh Văn: Về một NỀN DÂN CHỦ PHÁP TRỊ VIỆT NAM

Mao, câu chuyện không được biết

Gene Sharp: Từ Độc Tài đến Dân Chủ

Vũ Thư Hiên: Đêm giữa ban ngày

 Tư Tưởng

Russell,
Sự tôn thờ của một người tự do (1)
A Free Man’s Worship (1903)

  • PSN 8.6.2014 | Lê Dọn Bàn

 

Lời người dịch bản tiếng Việt
A Free Man's Worship (ấn bản đầu tiên là “The Free Man's Worship” 1/21903) có lẽ là một luận văn nổi tiếng và được in lại nhiều nhất của Bertrand Russell. Văn phong và ngôn ngữ đặc biệt của nó, vẫn thường được ghi nhận và phân tích, ngay cả Russell cũng có cơ hội tự giải thích, bản văn, vốn ra đời rất sớm, lúc ông mới vào tuổi 30.

Khi có cơ hội nhìn lại giai đoạn đó của chính mình, ông viết, năm 1929, “Nó (luận văn) đặt trên một siêu hình học có phần thiên về Plato hơn là một siêu hình học mà tôi giờ đây tin tưởng”. Thế nhưng bài luận văn vẫn âm vang (hay đúng hơn báo trước) nhiều những chủ đề đặc biệt của Russell (characteristic Russellian themes) và những bận tâm đời ông sẽ theo đuổi, như ông nói, điển hình trong – Những gì tôi đã sống:

“Ba đam mê giản dị nhưng mãnh liệt đã chi phối đời tôi: khát khao tình yêu, săn tìm tri thức và xót thương khôn cùng những khổ đau của loài người. Những đam mê này, như những trận cuồng phong, đã thổi tôi tán loạn bay đây đó khắp hướng trên một đại dương mênh mông thống khổ, chạm những bờ thật cùng quẫn tuyệt vọng”. (What I Have Lived For – Lời mở đầu Tự truyện của Bertrand Russell).

Do đó, A Free Man's Worship đáng cho chúng ta đọc lại – Bản văn là một dấu mốc lịch sử quan trọng, không chỉ của tư tưởng Russell, nhưng của tư tưởng châu Âu, đầu thế kỷ 20. Tiến bộ của khoa học đã nâng cao kiến thức và đời sống con người, nhưng ứng dụng kỹ thuật của nó, nổi bật qua những vũ khí giết người hàng loạt và khả năng tàn phá lớn rộng, trong Thế chiến I, đã cho thấy sức mạnh vật chất khủng khiếp sau khi đưa vào chiến tranh. Hậu quả thảm khốc của nó là châu Âu và nhiều phần của Á, Phi, nằm gục trong hủy hoại đổ nát. Như trong Waste Land, của T.S. Eliot, chúng ta có thể cảm nhận được tâm trạng tan vỡ, bắt nguồn từ kinh nghiệm tập thể của Thế chiến I này. Đặc biệt là sự hủy diệt quá lớn về phần mạng sống con người, khiến hầu hết các nước châu Âu đã mất trọn cả một thế hệ thanh niên. Thế chiến I cũng dẫn đến những gì có thể được mô tả như một sự tuyệt vọng về văn hóa nữa. Tôn giáo vốn không là thuốc chữa, nhưng còn là nguyên nhân, gây chiến tranh, đau thương cho con người; khoa học với sức mạnh mới trong sự chế ngự thiên nhiên nhưng không thêm sức mạnh trong nỗ lực ngăn cản bản năng tàn phá của con người. Trong bối cảnh đó, chủ nghĩa Nhân bản mới (neo-humanism) của thế kỷ 20, có sự kết hợp mới với chủ nghĩa Vô thần, đã định hướng và phát triển, và những gì thấy cô đọng trong nội dung bài viết này của Russell đã góp phần quan trọng.

Riêng Russell, sau A Free Man’s Worship (1903), lần lượt những luận văn nổi tiếng khác: Những gì tôi Tin tưởng – What I Believe (1925), Tại Sao Tôi Không là người Kitô? Why I Am Not a Christian (1927), Am I An Atheist Or An Agnostic? (1947), và Thế nào là một người theo thuyết Không-thể-biết? What is an agnostic? (1953) – Tôi đã có dịp giới thiệu, là những trả lời trung thực và trực tiếp nhất cho câu hỏi về quan điểm tôn giáo nổi tiếng của một người nổi tiếng, có thể tóm tắt – ông tự xem mình là một người “atheist” – không-tin-gót (vô thần) trong thực tiễn, nhưng trên triết lý, là một người theo thuyết không thể biết (agnostic).


Một con người tự do (free-thinker), hiểu theo truyền thống văn hóa, triết học phương Tây, là những người tự do về tư tưởng, chống lại, hay lãnh đạm, hoàn toàn đứng ngoài những tin tưởng vẫn đề cao trong những tín điều Kitô (với hệ quả tất yếu là - hoài nghi Gót (phiên âm từ God), không tin có linh hồn và bất tử, không thừa nhận có một một đạo đức duy nhất, hoàn toàn dựa trên thưởng phạt, với thiên đường/ hỏa ngục…); ngày nay chúng ta gọi là những người này là người “không-tin-có-Gót”, và tôi phải viết thêm cho rõ – Gót đang nói ở đây là Gót Kitô-Juda-Islam – và vẫn bị những tín đồ của những tôn giáo Abraham gọi miệt thị và bôi nhọ là những người “vô-thần”, và đặc biệt dưới mắt nhìn mê tín, đạo đức hạn hẹp của họ, xem là một con người hay thuộc một gì đó “vô đạo đức” (bởi với họ, nếu không tin Gót thì đạo đức có được từ đâu? vốn theo họ đạo đức là chỉ từ những lời gót ghi trong những thánh thư của các dân tộc Dothái/Ảrập! quan điểm tôn giáo thiển cận này đã đưa vào và phát triển trong đạo đức học phương Tây, điển hình khi Kant cho rằng những nguyên lý đạo đức phải là tuyệt đối và phổ quát – và chúng ta sẽ thấy Russell phủ nhận quan điểm đó trong Lời Nói đầu của ông). Một người tự do như thế, không tôn giáo hiểu như những tôn giáo Abraham, không tín ngưỡng hiểu như thứ tín ngưỡng “đức tin”, tôn thờ “huyền nhiệm”, vốn bản chất là năng lượng tiểm ẩn của thiên nhiên vật lý còn chờ đợi chúng ta khám phá động cơ biểu hiện, vẫn tạm gọi là “siêu” nhiên, và dẫu xem dường có là toàn năng đi nữa, – so với con người yếu đuối – trước sau vẫn chỉ cho thấy những biểu hiện thuần bạo lực, chỉ gây thiên tai và thảm hoạ, cho con người đau khổ. Thế nên, những con người tự do như chúng ta tôn thờ những gì xứng đáng được tôn thờ, những gì thực cao cả, thực nhân đạo, và xa lánh sức mạnh bạo lực, con người tự do tôn thờ những ý tưởng cao thượng, gọi là lý tưởng, thoát thai từ chính ý thức con người trong tương quan giữa nó với bên ngoài, chúng hiện ra như đáng đặt lên cao, đáng làm những mục tiêu theo đuổi, trong nỗ lực thuần hoá thế giới vật lý, nhân hoá thế giới tự nhiên không-ý-thức này. Trong mỗi bước hiện tại, chúng là chưa-hiện-thực, luôn ở phía trước chúng ta, nhưng chúng ta vẫn hướng tới miệt mài và không thất vọng; nói theo Russell, chúng ta tạo một thế giới sẽ “theo khuôn cấu thành” từ những ý tưởng riêng của chúng ta, trong một vũ trụ trước sau vẫn dửng dưng với con người. Chính sự tôn thờ những ý tưởng từ nhận thức trên thực tại của con người, thay vì những thần tượng tôn giáo từ tưởng tượng và thái độ nô lệ trước sức mạnh thiên nhiên; đã khiến con người thành con người trọn vẹn và đích thực tự do, chẳng những tháo gỡ con người dần khỏi những giới hạn vật chất, nhưng còn giải thoát con người khỏi những huyễn tưởng về thế giới vô hình, những ảo tưởng về thế giới hữu hình. Đó là sự tôn thờ của một người tự do – kẻ chống lại thần linh như Prometheus, và chống đỡ cả vũ trụ trên hai vai mình như Atlas.

Tự do như thế, về đạo đức, chỉ có – sau khi “Tự Ngã phải chết”, “tham lam của dục vọng chưa uốn nắn phải giết bỏ”, và chủ yếu “từ bỏ sự tranh đấu cho hạnh phúc riêng tư, để trục xuất tất cả sự háo hức dục vọng nhất thời, để đốt cháy với đam mê cho những điều vĩnh cửu – đây là sự giải thoát, và đây là sự tôn thờ của con người tự do”. Trong ngôi đền của con người tự do dựng lên, không còn thờ Sức mạnh Bạo lực, dù là Thiên nhiên, hay Siêu nhiên như Gót của Job, hay gót Moloch – nhưng là những suy tưởng cao vời, trong đó có lý tưởng đạo đức, thiết thực với những “đồng hành của mình vốn có cùng sự ràng buộc với một cuối cùng không tránh thoát bi đát chung”, cùng số phận trên một “cái bè hẹp” giữa “đại dương tối đen, trên sóng cuốn bập bềnh của nó, chúng ta tròng trành lấy một giờ ngắn ngủi”. Và thông điệp nhân ái nhất, không cần đến Gót Toàn Thiện/Nguyên lý đạo đức tuyệt đối phổ quát nào, nhưng đặt nền tảng trên phận Người cũng tuyệt đối và phổ quát trong thế giới vật lý, một thứ đạo đức không đến từ trời cao, không do thần linh “vén lên cho thấy”, nhưng giản dị vẫn có đó giữa lòng nhân gian, khi hiểu Người rồi sẽ thương Người: – “Hãy là phần của chúng ta để chiếu sáng trên lối đi của họ, để làm nhẹ bớt những buồn thương của họ bằng dầu xoa nồng ấm của cảm thông, để đem cho họ niềm vui tinh khiết của một cảm tình không bao giờ mệt mỏi, để làm vững mạnh can đảm suy yếu, để ngấm thấm tin tưởng trong những giờ tuyệt vọng. Chúng ta hãy đừng gắn nặng thêm bàn cân hằn học những đáng-khen và đáng-chê của họ, nhưng chúng ta hãy chỉ nghĩ đến nhu cầu của họ – đến những đau buồn, những khó khăn, có lẽ sự mù loà, vốn làm khốn khổ cho cuộc đời họ: chúng ta hãy nhớ rằng họ là những đồng bạn cùng khổ đau trong cùng bóng tối, những diễn viên trong cùng một bi kịch với chính chúng ta. Và như vậy, khi năm tháng của họ đã qua hết, khi tốt lành và xấu ác của họ đã trở thành vĩnh cửu bởi sự bất tử của quá khứ, hãy là phần của chúng ta để cảm thấy rằng, nơi họ phải chịu đựng đau khổ, nơi họ đã thất bại, đều không một hành động nào của chúng ta đã là nguyên nhân...”

Theo tôi, không còn lời nào cảm động và cao thượng hơn, hiển nhiên như vang vọng một lời nói khác, từ “Ánh sáng phương Đông”, trong:

“Sáng cho người thêm niềm vui,
Chiều giúp người bớt khổ...”


Không rao giảng hãy yêu tất cả như yêu chính mình, chỉ kêu gọi hãy đừng làm người khác khổ; Đó là đạo đức chân thực của những con người tự do và nhân bản, những con người không-tin-có-Gót. Đạo đức nhân bản có gốc rễ từ sự hiểu biết của chúng ta về bản chất con người, và những tình huống hay điều kiện sống của con người trong thế giới thực tại. Cứu cánh, ý nghĩa cuộc sống nếu muốn tìm, sẽ chỉ thấy trong thế giới này, trên mặt đất này, và sẽ thể hiện giữa những đồng loại của chúng ta. Bổn phận hay trách nhiệm của chúng ta cũng hướng đến đồng loại và mọi sự sống khác cùng có hành tinh xanh này là chốn sinh sống.

Phải nhận thực rằng có những kẻ không thể nào yêu được, và chúng ta không thể buộc phải yêu họ, chỉ đừng ghét họ là đủ. Hãy thú nhận rằng không thể nào yêu láng giềng kẻ lạ như yêu người thân yêu hay chính mình, yếu tính của yêu thương là khác biệt không thể như nhau. Chỉ phải thực hành rằng đừng làm một ai khác khổ, đừng thù ghét con người.

 

... Xem tiếp >>
 

Lê Dọn Bàn (Apr/2014)

Nguồn: © Chuyện đâu đâu

TƯ TƯỞNG

LÊN TRÊN=  |     GỬI BÀI     |     LÊN TRÊN=

Phù Sa được thực hiện bởi nhóm PSN (Phù Sa Network).
Là tiếng nói của người Việt Tự Do trong và ngoài nước nhằm phát huy khả năng Hiểu Biết và Thương Yêu để bảo vệ và thăng hoa sự sống.
PSN không loan tin thất thiệt, không kích động hận thù, và bạo lực. Không chủ trương lật đổ một chế độ, hay bất kỳ một chính phủ nào.