Thưởng xuân
Cứ
mỗi độ xuân về, chắc chắn ai trong chúng ta cũng đều cảm thấy
có một chút gì khiến cho cõi lòng bâng khuâng, xao xuyến trước
cảnh vật thiên nhiên; trước những tín hiệu thông báo hiện
tượng xuân về. Hay thời khắc giao mùa tuy cũng chỉ mơ hồ như
thời tiết của đất trời: buổi sáng có sương mù tan loảng trong
không gian; buổi chiều trải màu nắng nhạt vương vài giọt mưa
rơi mỏng. Phảng phất ngọn gió heo may làm gây gây lạnh. Cái
lạnh êm êm dễ chịu, chỉ cần mặc thêm chiếc áo len mỏng, cũng
đã thấy ấm rồi. Ở vùng quê, những căn nhà lá không đủ che ấm,
nhưng nhờ có bếp lửa đã nhen nhúm từ chiều. Mỗi mỗi nhà đều có
để sưởi cho mùa đông tháng rét. Và hình như chỉ ở Việt Nam
người ta mới phân biệt được thời tiết của bốn mùa. Rõ nét nhất
là thời khắc giữa hai mùa Đông - Xuân hay nói đúng hơn là đêm
giao thừa, giao thời hay giao mùa. Giây phút của cuối năm cũ
và đầu năm mới giao nhau, còn gọi là đêm trừ tịch. Từ giây
phút nầy, thời tiết đã chuyển dần sang ấm áp khiến cho cây cối
đâm chồi nẩy lộc, và các loài hoa của mùa bắt đầu đua nở để
đón chào chúa xuân giáng trần.
Cảm giác thoải mái của cơ thể được đón nhận sự dễ chịu của thời
tiết ấm áp, cùng với phong cảnh nơi chốn thân yêu của một thuở
nào đã khiến lòng ta bâng khuâng. Rất đơn sơ, nhưng còn lưu lại
một nguồn sống thanh nhã nơi đồng nội hương ngàn. Và tình cảm êm
đềm của những tâm hồn giản dị và đôn hậu, đang hiện diện bên
nhau như một hòa điệu bởi tiếng lòng, được ấp ủ nơi khung cảnh
chứa đầy tình tự yêu thương. Khiến cho lòng họ tràn trề cảm xúc,
nỗi xao xuyến trước cảnh xuân về:
Năm vừa rồi
Chàng cùng tôi
Nơi vùng giáp mộ,
Trong gian nhà cỏ,
Tôi quay tơ,
Chàng ngâm thơ.
Vườn sau oanh giục giã;
Nhìn ra hoa đua nở;
Dừng tay tôi kêu chàng:
Này, này! bạn! xuân sang.
Chàng nhìn xuân mặt hớn hở ;
Tôi nhìn chàng, lòng vồn vã…
(Xuân Về, Lưu Trọng Lư)
Khung cảnh được diễn tả trong bài thơ "Xuân Về" trên đây, thật
thanh bình. Không gian và thơi gian, hay những tín hiệu báo tin
xuân nó cũng tự trong thiên nhiên ban phát một cách mầu nhiệm.
Hiện tượng nghe thấy và cảm nhận như một sự tình cờ. Luôn đến
rồi đi như không có sự bắt đầu và kết thúc. Và hình như lẽ vô
thường cũng bàng bạc, ẩn dấu trong ấy để chuyển hóa mọi trạng
huống.
Có phải chỉ là ngoại cảnh, hay vẫn còn những yếu tố khác nữa kèm
theo để truyền đến cảm giác ấy. Không biết chắc chắn vì trong
tất cả mọi nhận biết đều không mang một hình dáng rõ nét nào.
Ngoại cảnh cho dù quyến rũ đến đâu, cũng không thể làm đổi thay
nét hồn nhiên của những tấm lòng; và tình cảm ấy cũng không vì
ngoại cảnh chi phối mà trở nên hững hờ với cuộc đời hiện tại.
Thời khắc dành cho những tấm lòng thiết tha, trong sáng và thánh
thiện, đang hòa chung với nhịp điệu của đất trời, với cảnh sống
mà tạo nên. Chắc nhờ vào thuở thanh bình ấy mà người xưa họ vui
xuân cũng có khác với bây giờ.
Họ chơi xuân không phải chỉ có Tết Nguyên Đán, mà còn những cái
Tết tiếp theo: Tết Thanh Minh, Tết Đoan Ngọ, Tết Trung Thu, Tết
Trùng Cửu. Mỗi cái Tết đều có một sắc thái và cách thưởng thức
khác nhau. Chúng ta hảy tìm hiểu những trò chơi ấy, để tiêu
khiển trong mỗi dịp xuân về.
Người xưa họ chú ý đến một vài loài hoa thường nở đúng với thời
tiết của mùa, nên tao nhân mặc khách họ cũng lấy một loài hoa
làm biểu tượng; cũng như trưng dụng hết tất cả sự công dụng của
các loài hoa cỏ ấy để làm đối tượng cho cuộc thưởng thức thú vui
xuân được trọn vẹn.
Bốm mùa có Xuân, Hạ, Thu, Đông thì hoa cũng có hoa Đào, hoa Lựu,
hoa Cúc, hoa Mai là những loài hoa tiêu biểu cho mùa, thật ra
còn có nhiều loài hoa khác nữa cũng cùng nhau đua nở.
Theo các nhà nghiên cứu về hoa thảo, thì họ lấy các loại hoa
trên đây để làm biểu tượng (hay tượng trưng cho mỗi mùa). Nhưng
trên thực tế thì có thể không đúng với thời điểm, nên các nhà
chuyên môn trồng hoa họ có nghệ thuật hảm hoa cho nở đúng mùa.
Hoa Mai thường nở vào những ngày lập Xuân, lúc thời tiết đã
chuyển sang ấm áp của mùa Xuân. Tuy vậy, hoa Mai vẫn còn chịu
đựng được khí hậu của mùa Đông giá rét. Và cũng theo các nhà
nghiên cứu về hoa, thì hoa maì có các loại như: Mai tím, mai đen
(hắc mai), hồng mai (mai hồng), bạch mai (mai trắng), hoàng mai
(mai vàng).
Ở nước ta thông dụng nhất là mai vàng và mai trắng: Mai vàng có
nhiều nơi tại miền Trung và Nam, có lẽ chỉ thích hợp với khí hậu
ấm áp hơn, và cũng có thể vì tính thông dụng ấy mà được nhiều
người yêu thích hơn. Còn mai trắng thì có nhiều ở miền Bắc, loại
mai trắng chịu đựng được sương tuyết. (còn gọi là cây mơ có trái
chua chua, dùng để nấu canh hay làm bánh mứt). Cho dù thuộc loại
hoa màu nào đi nữa, hoa mai cũng vẫn được trao tặng một danh
xưng: “Loài Hoa Vương Giả”.
Dương Duy Trinh khi vịnh hoa mai có những câu như sau:
Thập nhị lan can minh nguyệt dạ
Cưu hà trướng noãn thụy đông phong.
(Lan can đêm sáng trăng ngời
Ráng mây màu ấm ngủ vùi gió đông.) *
Người ta chỉ đưa ra một vài loài hoa tiêu biểu cho mùa, nhưng có
lẽ vào mùa Xuân hoa nở nhiều nhất. Vì thời tiết ấm áp và là mùa
cho tất cả các cây cỏ đâm chồi nẩy lộc. Thiền Sư Mãn Giác có bài
kệ "Cáo Tật Thị Chúng" (dặn chúng trước khi thị tịch) với hai
câu mở đầu đã chứng minh cho điều đó:
Xuân khứ bách hoa lạc
Xuân đáo bách hoa khai
(Xuân đi trăm hoa rụng
Xuân đến trăm hoa nở)
Và có lẽ cũng vì vậy mà hoa mai người ta còn phong tặng một cái
tên cho mùa hoa là "Hoa Xuân" chứ còn hoa của các mùa khác thì
không có tên gọi được như thế.
Còn loại hoa tiêu biểu cho các mùa khác như hoa sen hay hoa cúc
chẳng hạn, chúng còn làm trung gian cho sự giao thoa giữa hai
mùa:
Sen tàn cúc lại nở hoa
Sầu dài ngày vắn đông đà sang xuân.
(Kiều).
Trong bốn mùa của năm, có lẽ mùa Xuân là mùa được nhiều sự chú ý
của nhiều người, cũng như việc tổ chức “Lễ Hội“ cho các mùa vẫn
phải kể đến Tết Nguyên Đán. Ban đầu tổ chức lễ từ trong năm như
ngày hai mươi làm lễ đưa Ông Táo về Trời. Theo tục lệ thì cứ đến
ngày gần cuối năm, dân gian thường tổ chức lễ “đưa Ông Táo“ lên
Thiên Đình để trình tấu với Ngọc Hoàng Thượng Đế tất cả những
việc dưới trần gian. Kế đến là tổ chức lễ đón Giao Thừa và xông
đất Năm Mới. Buổi lễ cúng kiến và đón Giao Thừa lúc nào cũng
thành kính và long trọng, vì trọn một năm mới có thuận lợi cho
cuộc sống hay không cũng nhờ vào thành ý của những lễ hội đầu
năm.
Như nội dung câu đối Tết của bà Hồ Xuân Hương:
"Đêm ba mươi khép cánh càn khôn ních chặt lại, kẻo ma vương đưa
quỷ tới.
Rạng ngày mồng một lỏng then tạo hóa, cho thiếu nữ rước xuân
vào".
Và để tránh ma quỷ đến nhà quấy nhiễu, người ta thường bày ra
tục lệ rào ngõ nhà bằng cách cắm một cây nêu trước ngõ, và trước
cửa treo một lá bùa. (theo sự tích ngày xưa thì quỷ vương đã có
giao ước với dân làng là phân chia biên giới và vùng trú ngụ của
hai bên bằng cây nêu đầu ngõ, hoặc lá bùa trước cửa).
Buổi sáng ngày mồng một, nếu người nào đến viếng nhà mình đầu
tiên, thì người đó sẽ là người “xông đất“ nhà mình. Có đem đến
an vui hạnh phúc cho gia đình mình hay không cũng là do người
ấy. Cho nên người xưa thường đi “mời người xông đất“ đến thăm
nhà mình, vì nghĩ rằng người được mời là một người đạo hạnh thì
sẽ đem đến cho gia đình mình nhiều phúc lợi trong năm mới.
Tiếp theo là chọn giờ lành để "xuất hành" thường là lên Chùa lễ
Phật và hái lộc đầu năm. Vì họ nghĩ rằng được lộc chùa mang về
nhà là đem về những điều tốt lành cho năm mới được hạnh phúc an
vui.
Kế tiếp là đi thăm bà con xóm giềng, cũng như ăn chơi thả giàn.
Người ta thường nói “ăn chơi ba ngày Tết“ nhưng thật ra kéo dài
đến hết tháng Giêng (tháng giêng là tháng ăn chơi). Mà cũng chưa
hẳn chỉ có ăn chơi của một tháng giêng, mà còn tiếp theo những
trò chơi dân gian vào tháng Hai tháng Ba nữa. Tháng Ba còn có lễ
hội Đạp Thanh.
Xuân du thanh thảo địa.
(Mùa xuân dạo chơi trên thảm cỏ xanh non)
Sau khi tổ chức Tết Nguyên Đán, các lễ hội được tổ chức tiếp
theo để mọi người được kéo dài việc vui xuân. Vì cuộc chơi xuân
của người xưa không chỉ dừng lại ở ba ngày Tết, mà còn kéo dài
đến gần cuối mùa Xuân. Tháng Ba là tiết Thanh Minh, (có lẽ ảnh
hưởng với phong tục cổ xưa ở bên Tàu, bắt nguồn từ lễ tảo mộ của
hàng năm) người ta thường bày trò chơi tụ tập ngoài những cánh
đồng cỏ, mang theo đồ ăn thức uống. Họ ngồi chung ăn uống với
nhau, rồi sau đó cởi giày dép ra và đi chân không trên cỏ. Họ
cho rằng bàn chân được tiếp xúc với cỏ mượt, tạo nên những cảm
giác thích thú.
Hạ tẩm bạch liên trì.
(Mùa hạ ướp trà với hoa sen trắng)
Mùa Hạ chỉ còn lại những loài hoa mọc dưới nước, hay nơi chốn ẩm
ướt trong đó đặc biệt là hoa sen. Hoa sen là loài hoa tinh
khiết: Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn (cao dao). Và
hoa sen theo tình tự của Phật giáo thì tượng trưng cho nhiều ý
nghĩa và hạnh lành:
1) Có hoa là có gương: nhân quả đồng thời.
2) Mọc trong bùn lầy mà vẫn trong sạch thơm tho.
3) Cọng hoa từ góc tách riêng không chung cành với lá.
4) Ong và bướm không bu đậu.
5) không bị người dùng làm trang điểm. (xưa đàn bà Ấn Độ quen
dùng hoa kết thành tràng để đeo).
(thích nghĩa của dịch giả Thích Trí Tịnh)
Theo đó thì hoa sen được tượng trưng cho các hạnh như: hạnh
thanh tịnh, hạnh tinh tấn, hạnh nhẫn nhục…
Ngoài ra còn cung cấp một nguồn thực phẩm và dược phẩm rất
phong phú. Hoa sen còn dùng để ướp trà để uống, rất thơm ngon.
Cũng như người ta thả vào trong nước tắm làm tăng mùi thơm và
mát dịu, còn có công dụng làm cho huyệt mạch điều hòa, an thần.
Thu ẩm hoàng hoa tửu.
(Mùa thu uống rượu hoa cúc vàng)
Mùa Thu là mùa của tao nhân mặc khách, mùa của thi nhân uống
rượu ngâm thơ, hay cùng nhau xướng họa. Và mùa thu là mùa của
hoàng cúc, một loài hoa quý phái, vương giả như các nàng cung
phi. Nhưng cúc cũng còn ví với người quân tử, vì đến mùa đông
giá rét mà cúc vẫn ngạo nghễ với tuyết sương. Như người quân tử,
dù trong thời ly loạn vẫn giữ được tiết tháo của mình. Với những
câu châm ngôn như:
- Cúc ngạo hàn sương: cây cúc kiêu ngạo giữa sương lạnh, trời
đông, mọi hoa đều tàn mà hoa cúc vẫn tươi.
- Cúc tú lan hương: Cúc đẹp, hoa lan thơm.*
Hoa cúc thường nở vào mùa Thu kéo dài cho đến ngày lập Đông mà
vẫn còn hoa cúc nở.
Mùa Thu còn là mùa của Tết Trùng Cửu (hay Trùng Dương) là ngày
các cụ thường hay rũ nhau lên núi để uống trà và ngâm thơ. Tương
truyền, người xưa họ uống trà phải dùng nước suối trên cao để
pha trà mới tăng thêm vị đậm đà, mùi hương thanh khiết.
Đông ngâm bạch tuyết thi.
(Mùa đông ngâm vần thơ tuyết trắng)
Không riêng gì mùa Thu mới có những trò chơi tao nhã như thế, mà
còn chuẩn bị cho những cuộc vui kế tiếp vào mùa Đông nữa. Thế
cho nên người ta cũng đã hái hoa cúc ủ thành men để làm rượu.
Rượu hoàng cúc uống rất thơm và bổ dưỡng. Đến mùa đông giá rét
thường đem hoàng cúc tửu ra để thưởng thức, bên án sách và ngâm
nga một vài câu cổ thi. Đấy là cái thú của người xưa, mà trong
thời hiện đại không thể tìm thấy được. Vì có lẽ quê hương bị
chiến tranh loạn lạc, giặc giã tràn lan, nghèo đói khắp nơi,
tang thương khắp chốn thì còn đâu mà mơ tưởng đến cái cảnh ngắm
hoa thưởng nguyệt, uống rượu ngâm thơ như người xưa nữa.
*
Nơi xứ Đức nầy, mùa Đông năm nay thời tiết có hơi khác với những
năm về trước: mùa Giáng sinh không có tuyết, chỉ về đêm có ít
sương muối, ngoài trời không lạnh lắm. Khí trời ấm áp, kéo dài
qua năm mới dương lịch.
Ban ngày vẫn có nắng vàng nhạt, hiu hiu gió như heo may ở quê
nhà. Như thời tiết đang phơi phới trong những ngày vào xuân.
Nhưng sao vẫn thấy không có cảm giác mến yêu, vẫn không tìm thấy
trong ấy những cảm xúc êm đềm như những lần xuân đến ở nơi quê
nhà, nơi chốn thân yêu của mỗi chúng ta. Có lẽ khung cảnh ở đây
kể cả thời tiết vẫn còn có chút gì khang khác, mặc dù đã sống
trên dưới hai mươi năm qua, vẫn chưa quen. Hay ý niệm tha hương
vẫn còn ghi đậm trong tâm thức của mỗi chúng ta, nên tình cảm
dành cho đời sống, không còn đằm thắm và thiết tha như những
ngày xưa cũ. Có lẽ, khung cảnh xa lạ, cảm giác không thân thiện
với nơi đây, hay mặc cảm lạc loài vẫn còn đè nặng trong lòng
người xa xứ theo tháng ngày qua.
Những đổi thay trong cuộc đời, theo lẽ vô thường đến rồi đi, làm
phôi phai ngày tháng và cảnh biệt ly như còn ẩn hiện trong tâm
thức hiện tại, nỗi cô đơn vẫn hiện hữu khi mùa dần tàn, và không
còn thấy lại bóng dáng của người xưa!
Rồi ngày lại ngày
Sắc màu: phai,
Lá cành: rụng,
Ba gian: trống;
Xuân đi,
Chàng cũng đi.
Năm nay xuân còn trở lại,
Người xưa không thấy tới.
(thơ
đã trích dẫn)
Trong giờ phút đón xuân, tình cờ tôi đọc lại bài thơ "Xuân Về"
của Lưu Trọng Lư, chợt bắt gặp hai khung cảnh: một của quá khứ
với cảnh thanh bình, êm ả; và một hiện tại với trạng thái mất
mát, hụt hẩng, buồn đau. Tôi chợt hiểu ra một điều mà xưa nay
tôi không mấy để ý. Có phải thời gian đang đi, mang theo những
đổi thay của đất trời, của vạn vật nhưng không mang theo lòng
người. Cho nên bây giờ xuân lại trở về, nhưng khung trời cũ, kỷ
niệm xưa thì không. Nó đã bị dấu quên nơi đâu để chỉ còn lại
những cảm giác mất mát tiếc thương. Và cuộc sống tha hương hiện
tại cũng lắm não nề, nên chỉ thấy cuộc đời bằng một màu tăm tối.
Cho nên mới thấy được những điều mà lâu nay tôi cứ ngỡ là của
trời, của đất và của tôi. Vì thế những gì qua đi thì cảm thấy
tiêng tiếc, và những gì chưa đến thì cứ khắc khoải mong chờ, để
luôn cảm thấy cuộc sống cứ bất an !
Sao tôi không trở về với lòng mình để tìm lại một mùa Xuân an
bình? Một mùa xuân miên viễn?
Trần Đan Hà
*sách tham khảo: Tùng Cúc Trúc Mai Thi Tuyển của Huyền Thanh Lữ
biên soạn và chú giải. |