Thỉnh thoảng qúy vị có cảm thấy làm biếng không?
Làm biếng, mà tôi đang nói tới là không muốn làm gì,
cũng không muốn dự tính sẽ làm gì; không muốn nghĩ gì, cũng không
muốn sẽ nghĩ tới gì. Nghĩa là, hoàn toàn buông xả thân tâm, như
chiếc lá rơi xuống giòng, cứ lặng lẽ trôi, thong thả tới cuối sông
cũng được, mà vướng nhánh khô, gỗ mục, giạt vào bờ cũng chẳng sao!
Hoàn toàn thoải mái, hoàn toàn tự do, như chủ nhân ông quyền uy,
không hề bị những phiền toái của quá khứ, vị lai, lôi kéo, hành xử,
chỉ có hiện tại “không làm gì cả” mà thôi.
Những lúc được làm biếng như thế thật là tuyệt diệu.
Tôi đang có buổi chiều tuyệt diệu.
Một bình trà thơm, một cuốn sách rút từ kệ sách bên vách
tường, rất hờ hững, bâng quơ, không chọn lựa cũng chẳng quan tâm về
nội dung, đề tài gì cả. Cầm sách ra vườn chỉ là thói quen, nhưng khi
đang làm biếng thì nào cần biết là sách gì, vì chắc đâu đã đọc!
Chiều đã dịu nắng và gió nhẹ. Gió cũng thảnh thơi, nhàn
nhã quá nên đang chơi đùa với những bông phượng tím. Mùa này, những
cây phượng tím trồng bên đường nở rộ hoa, xen lẫn những nhánh lá
ngọc bích xanh non, tạo thành những bức tranh rất hài hòa mầu sắc.
Thỉnh thoảng, gió đùa hơi mạnh, làm dăm nhánh hoa tím lác đác rơi.
Ấy thế mà hoa không giận. Hoa vừa bay theo gió, vừa khúc khích cười.
Ngờ đâu, hoa cũng hiểu về lý duyên sinh vô ngã, cái này ở trong cái
kia, cái này có mặt bởi cái kia có mặt, cái này diệt cho cái kia
sinh, hay trong sinh đã sẵn mầm diệt và trong diệt đang khai sinh?
Chắc chắn, hoa đã hiểu như thế, nên hoa rơi mà vẫn vui
cười, còn rủ mấy lá phong rơi theo. Ồ, mấy lá phong này tinh quái
quá, lao xao tới tận chỗ tôi ngồi. Tôi cầm lên, nhìn ngắm. Lá tuyệt
đẹp, vàng óng pha lẫn mầu đất nâu, như nét đẹp của mầu áo sa-môn
lung linh nắng chiều. Lá phong là tiêu biểu mùa thu. Rừng phong là
nguồn cảm hứng bất tận của bao nghệ sỹ qua mầu sắc, âm nhạc, thơ văn
v…v… Tôi chưa được đi vào mùa thu, giữa rừng lá phong rơi nhưng đã
nhìn thấy nhiều lần, qua tranh vẽ, ảnh chụp. Mới đây nhất, là hình
ảnh khóa tu ba ngày tại Toronto Canada.
Khóa tu này mang tên “Trại Phật Pháp Mùa Thu” do Hội
thân hữu Già Lam tổ chức, quý Chư Tăng tu viện Pháp Vân trực tiếp
đảm trách.
Trại được dựng lên giữa rừng phong thơ mộng. Trời rất
xanh, rất cao, nắng lung linh tỏa xuống rừng phong mênh mông, thẳng
tắp, ngọn như đụng trời mây, cành từ ái giang rộng như thiên thủ
Quan Âm và lá thì lả tả rơi như hoa trời đang rải từ tay Thiên-nữ.
Giữa tĩnh lặng mênh mang thơ mộng đó, đoàn thiền hành thanh thản, an
nhiên, cùng bước những bước chân chánh niệm trên thảm lá thu phong.
Mầu y vàng ca-sa di động nhẹ nhàng cùng lá, hướng dẫn đoàn Phật tử
áo lam thong dong theo bước quý Thầy. Nắng sớm không ngừng đùa trên
vai Thượng Tọa Nguyên Siêu, đến từ San Diego, lá nghịch ngợm vương
trên áo Thượng Tọa Tâm Hòa, trụ trì chùa Pháp Vân, còn gió thì ngập
ngừng, cất tiếng niệm Phật theo Thượng Tọa Trí Thành, Nguyên Lạc,
Bổn Đạt, Đại Đức Tâm Minh và đoàn Phật tử.
Tất cả tạo thành tác phẩm “Hữu Xạ Tự Nhiên Hương”.
Thật là cơ hội tuyệt hảo cho cả thân và tâm về an trú
trong chánh niệm giữa hương đạo vị bát ngát đất trời. Tiếc quá, tôi
chưa hội đủ duyên, chỉ tham dự “hàm thụ” khi đọc bài tường trình
trên các trang nhà Phật Giáo!
Cầm cuốn sách vừa mang theo ra vườn, tôi muốn đọc, bất
cứ cái gì đó, để khỏa lấp niềm tiếc nuối.
Đây là cuốn “Đường Thi” !
Trời hỡi, đang mơ màng tiếc nuối mà đọc thơ Đường thì
hiểu gì nổi! Nhưng có sao, đọc thì cứ đọc, không hiểu thì cứ … không
hiểu, có thầy đồ nào cầm roi mây lăm lăm kế bên đâu mà ngại.
Yên tâm như thế, tôi thảnh thơi rót trà, nhấp một ngụm
rồi lật sách, loáng thoáng từng trang xem có những gì.
Đại khái có nhiều tác giả, mỗi tác giả đan cử dăm bài.
Tôi quyết định chọn đọc những bài được thiên hạ nhắc đến nhiều nhất,
được trích dịch nhiều nhất (Điều này có theo tinh thần “tỷ lệ thuận”
là những bài hay nhất, của những tác giả nổi tiếng nhất hay không?).
Mới lật vài trang, tôi gặp ngay ông Trương Tịch. Thi
nhân này tự là Văn Xương, người Ô Giang, có bài thơ được truyền đọc
nhiều nhất là bài Tiết Phụ Ngâm.
A, nhân thể đọc thơ Đường, tôi thử ôn lại vốn liếng chữ
Hán đã rơi rụng như lá mùa thu (lá rừng phong của Thầy Tâm Hòa) xem
có còn sót được chữ nào không !
Tựa bài là Tiết Phụ Ngâm đã hay quá rồi.
Chữ Tiết, từ bộ Trúc, đồng nghĩa với cái mắt tre; mà nói
về trúc là ý nói về lòng quân tử.
Chữ Phụ, ở bộ Nữ, ghép chữ Tảo là cái chổi, thì không
còn gì tiêu biểu hơn cho người phụ nữ.
Chữ Ngâm, từ bộ Khẩu (hỷ vi ca ngâm, nghi vi trầm ngâm)
Tạm hiểu được tựa bài, tôi hăng hái đọc một mạch:
“Quân tri thiếp hữu phu
Tặng thiếp song minh châu
Cảm quân triền miên ý
Hệ tại hồng la nhu
Thiếp gia cao lâu liên uyển khởi
Lương nhân chấp kích Minh-Quang-Lý
Tri quân dụng tâm như nhật nguyệt
Sự phu thệ nghĩ đồng sinh tử
Hoàn quân minh châu song lệ thùy
Hận bất tương phùng vị giá thì”
Đọc xong, cái đầu tôi tự động lắc lia lịa! Bài thơ rơi
vào Manas thức-thứ-bẩy mà nhất định không chịu lọt xuống kho chứa là
tàng thức Alaya thức-thứ-tám!(tôi lại nhân thể ôn bài Duy Thức Học
với bao tầng tâm thức rắc rối)
Tại sao vậy cà ? tại sao Manas-thức đã thâu mà
Alaya-thức chưa chịu nhận? Thật ra Alaya-thức đã tự động nhận rồi,
nhưng nó lặng thinh để nhìn Manas-thức làm việc vì Manas-thức này
bản chất chấp trước nên đang so đo, phân tích.
Manas-thức trong tâm thức tôi đang phân vân với ý thơ.
Người thiếu phụ có chồng đang cầm quân trấn giữ nơi xa, được một bậc
nam nhi hào hoa phong nhã mon men tới, tặng món quà quý giá là đôi
vòng ngọc. Nàng cầm lòng chẳng đặng, bèn nhận ngọc rồi đeo vào trong
cánh áo. Không biết sau đó bao lâu nàng mới chợt tỉnh rằng, chồng
đang ở nơi xa mà nhận quà của người khác phái thế này, thật chẳng
xứng đáng chút nào. Nghĩ thế, nàng đành tìm chủ nhân đôi vòng để trả
lại, nhưng vừa trả lại vừa khóc vì tiếc hùi hụi là đã không gặp được
chàng sớm hơn !
Trời ơi, thế này thì đâu phải là tiết phụ ! Người chồng
phương xa mà biết được (dù nàng đã trả lại vòng ngọc) chắc cũng
chẳng hãnh diện gì đâu, vì nếu nàng thực tình một lòng một dạ chỉ
nhớ nghĩ đến chồng thì khi anh chàng hào hoa kia mang ngọc tặng,
không những từ chối ngay mà còn phải mắng cho vài mắng. Rõ ràng là
anh chàng này có hậu ý. Chồng tôi không có nhà, anh mang quà quý
sang tặng tôi là ý muốn gì?
Bất giác, tôi nhớ tới bà Đoàn Thị Điểm, vị nữ lưu trí
tuệ ngất trời đã để lại áng văn bất hủ mà học giả Đặng Trần Côn đã
chuyển dịch thành những giòng thơ mượt mà qua tác phẩm Chinh Phụ
Ngâm.
Học trò hay trốn học như tôi mà đến nay vẫn còn nhớ lõm
bõm dăm đoạn thơ khi người chinh phụ tiễn chồng ra quan ải:
“Cùng trông lại mà cùng chẳng thấy
Thấy xanh xanh những mấy ngàn dâu
Ngàn dâu xanh ngắt một mầu
Lòng chàng ý thiếp, ai sầu hơn ai!”
Chỉ mấy câu thôi là người đọc có thể tin tưởng rằng tấm
lòng người chinh phụ sẽ theo chồng từng bước. Mà đúng như thế thật.
Người ra đi đã mấy năm biền biệt mà người ở lại vẫn một dạ trông
chờ:
“Kể năm đã ba, tư cách diễn
Mối sầu thêm nghìn vạn ngổn ngang
Ước gì gần gũi tấc gang
Giải niềm cay đắng để chàng tỏ hay
Thoa cung Hán thuở ngày xuất giá
Gương lầu Tần dấu đã soi chung
Cậy ai mà gửi tới cùng
Để chàng thấu hết tấm lòng tương tư!”
Với tấm lòng trung trinh tiết liệt như vậy, anh chàng
nào mang ngọc tới tặng là kể như … tới số !
Manas-thức này rắc rối quá! Đã đan cử như thế vẫn chưa
chịu, cho rằng có thể nhận xét chưa chính xác, chưa công bằng, vì
đọc Chinh Phụ Ngâm bằng chữ nôm, nghe êm ái hơn nên dễ chấp nhận
hơn, còn Tiết Phụ Ngâm âm hưởng chữ Hán, nặng nề hơn chăng ?
Được rồi, kiên nhẫn chờ chút để tôi kiểm điểm gia tài.
Alaya- thức đâu, lục trong kho chứa xem còn sót chữ Hán nào, mang ra
dùm để tôi làm gan dịch bài Tiết Phụ Ngâm ra lục bát. Tôi mà dịch
xong thì Manas-thức đừng làm khó nữa nhé. Xem nào, tôi từ từ dịch
thế này:
“Biết rằng thiếp đã có chồng
Chàng còn đem tặng đôi vòng ngọc xinh
Tạ lòng chàng, dạ chẳng yên
Thiếp đeo trong cánh áo sen lụa mềm
Vườn kề, nhà thiếp nằm bên
Cầm quân, chồng thiếp giữ đền Minh Quang
Biết lòng chàng tựa trăng trong
Nhưng lời thề nguyện cùng chồng chẳng sai
Lệ tuôn, trả ngọc cho ai !
Khi xưa không gặp, tiếc hoài chi nhau !”
May quá, Manas-thức đã gật gù đồng ý rồi, tôi có thể đọc
bài khác. Đã có kinh nghiệm, tôi tìm bài gì nhẹ nhàng, phơi phới hơn
cho đỡ tranh cãi nhức đầu.
Đây rồi, thi nhân Thôi Hiệu nổi tiếng như cồn và bài
Hoàng Hạc Lâu đẹp như mơ. Địa danh này ở phía Tây Bắc, thành Vũ
Xương, tỉnh Hồ Bắc. Xem ông Thôi Hiệu viết gì nào:
“Tích nhân dĩ thừa hoàng hạc khứ
Thử địa không dư Hoàng Hạc lâu
Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản
Bạch vân thiên tải không du du
Tình
xuyên lịch lịch Hán Dương thụ
Phương thảo thê thê Anh Vũ châu
Nhật
mộ hương quan hà xứ thị
Yên
ba giang thượng sử nhân sầu”
À, thi nhân này vừa chơi chữ, vừa mượn cảnh gởi tình.
Ông dùng hình ảnh người xưa cưỡi hạc đã đi xa, để lại nơi này, lầu
Hoàng Hạc còn mong nhớ. Cái lầu này đã mang sẵn tên là Hoàng Hạc nên
thi nhân mới để Tích Nhân (người xưa) cưỡi hạc mà đi, vừa thơ mộng,
vừa súc tích chữ nghĩa, vừa khoác vào người xưa một phong thái tiên
ông nhẹ nhàng (có nhẹ, hạc mới chở nổi, chứ gặp tôi là đã thành thật
hạ bút: Tích nhân dĩ thừa … bạch mã khứ!)
Bài thơ hớp hồn người đọc ngay hai câu đầu rồi. Nhưng
đọc tiếp thì thấy thi nhân tham lam quá, mượn cảnh chở tình hai câu
đầu có vẻ “ăn khách” là “tới luôn bác tài”. Không tin, quý vị đọc
tiếp mà xem. Nào là, ta trông ngóng chờ mong mà chỉ thấy mây trời
trắng xóa, thấy cây cao bóng cả Hán Dương, thấy cỏ non tươi bên bờ
Anh Vũ, chiều dần xuống che khuất trời quê, lại thêm sóng vỗ lao xao
khiến ta buồn ơi là buồn !
Thi nhân mượn cảnh nhiều quá khiến người đọc “nhàn cư vi
bất thiện” như tôi chợt thắc mắc rằng, nếu không có cảnh, liệu thi
nhân có thực tình buồn không?
Không bỏ lỡ cơ hội, Manas-thức-thứ-bẩy bèn rủ rê
thức-thứ-sáu cùng khởi niệm băn khoăn khiến tàng-thức Alaya thứ-tám
phải lôi ngay trong kho chứa ra những câu chí tình của thi sỹ Tản Đà
trong bài Thề Non Nước, để hai thức kia có “đồ nhắm” mà tha hồ chén
chú chén anh:
“Nước non nặng một lời thề
Nước đi, đi mãi không về cùng non
Nhớ lời nguyện nước thề non
Nước đi chưa lại, non còn đứng không
Non cao những ngóng cùng trông
Suối tuôn giòng lệ chờ mong tháng ngày…”
Cũng mượn cảnh chở tình nhưng khác là người mượn cảnh
NHẬP vào cảnh nên tình này rất chí tình. Tản Đà cũng chính là nước,
là non, là sông, là suối nên sự thủy chung diễn tả ở đây là tự đáy
lòng; chứ không như thi nhân Thôi Hiệu, đứng bên ngoài cảnh mà nhìn
“đây là mây, là cỏ, là hạc, là sóng vỗ lăn tăn làm ta buồn nhớ”
khiến cái buồn không thực buồn, nếu không có cảnh.
Để công bằng, có lẽ tôi lại phải vận dụng dăm chữ Hán
còn vương vãi đâu đó để dịch bài Hoàng Hạc Lâu của Thôi Hiệu ra lục
bát cho đồng điệu với Thề Non Nước của Tản Đà.
Bài Hoàng Hạc Lâu đã được nhiều học giả, danh nhân thi
sỹ dịch rồi, tôi không biết thân, còn lò dò vào là mất mạng như
chơi! Để tự vệ, xin vòng tay bái kính tất cả chư liệt vị đã từng
dịch bài thơ danh tiếng này. Tôi không dám bước vào văn đàn, chỉ
dịch vì phải đáp lại đòi hỏi của Manas-thức trong tôi, vốn cái gì
cũng suy tư thắc mắc nên Thức này còn có biệt danh là Hằng Thẩm Tư
Lương, một trung tâm tư duy trong thế giới thầm lặng mà chằng chịt
hoạt động của Tâm, Ý, Thức. Tôi xin phép tạm dịch Hoàng Hạc Lâu thế
này:
“Người xưa cưỡi hạc đi rồi
Nơi này Hoàng Hạc ngậm ngùi lầu không
Hạc vàng biền biệt vời trông
Ngàn năm mây trắng mênh mông một trời
Hán Dương cây ngả bóng dài
Cỏ thơm Anh Vũ tươi ngoài bờ xa
Chiều buông khuất bóng quê nhà
Khói lan sóng vỗ trong ta điệu buồn”
Để Manas-thức không kịp thì giờ cằn nhằn thêm, tôi
bèn giở thật nhanh tới một bài vô thưởng vô phạt của đại thi hào Lý
Bạch. Thi nhân này bất tử vì đã dám thản nhiên … tử ! Tuy thi nhân
tự mình tìm cái tử nhưng không phải theo nghĩa đời thường là chán
đời mà tìm chết. Trên sông vắng, Lý Bạch rủ trăng uống rượu, cùng
tìm thi tứ ngâm nga. Trong men rượu, trăng trở thành tri kỷ và tình
thơ thắm thiết đến mức, nhìn bóng trăng lồng đáy nước, thi nhân đã
trầm mình xuống giòng mà ôm bạn cho thỏa lòng ! Trăng là bóng hay
bóng là trăng? Lý Bạch là trăng hay chính trăng là bóng Lý Bạch? Ôi,
thật là một cái chết đầy thơ mộng !
Tôi không dám lạm bàn về vấn đề này hơn, e rằng
Manas-thức-thứ-bẩy nổi hứng, lại tình nguyện làm Căn cho
Thức-thứ-sáu, là thức có nhiệm vụ hoạt động thường xuyên giữa những
trạng huống: tham, sân, si, mạn, nghi và kiến. Khi hai thức này hợp
tác với nhau thì như lửa gặp gió, vạn pháp bên ngoài được mang ra
phân tích, chia chẻ không nương tay nên gặp trường hợp này, Duy Thức
Học đặt tên là Phân Biệt Ngã Chấp, cũng chẳng oan chút nào!
Biết thế, tôi chọn bài thật ngắn của Lý Bạch, chỉ có bốn
câu tiễn bạn đơn sơ. Tựa bài cũng giản dị lắm: “Tống Mạnh Hạo Nhiên
chi Quảng Lăng” đại ý là tiễn bạn Mạnh Hạo Nhiên đi Quảng Lăng. Chắc
hai vị này phải thân nhau lắm nên tiễn nhau đi đâu là cũng đủ cảm
xúc để làm thơ. Bài thơ ngắn của Lý Bạch thế này:
“Cố nhân tây từ Hoàng Hạc Lâu
Yên hoa tam nguyệt hạ Dương Châu
Cô phàm viễn ảnh bích không tận
Duy kiến trường giang thiên tế lưu”
Sao mấy thi nhân thời này ưa tới lầu Hoàng Hạc quá! Có
lẽ quán này có nhiều món ẩm thực độc đáo chăng? (tinh thần ăn uống
trong tôi nổi dậy rồi đó!). Mới đọc cái tựa, tôi cứ tưởng cô đọng có
bốn câu thì bốn câu này phải diễn tả tình bạn thắm thiết lắm. Ấy thế
mà tình chỉ thấp thoáng nương cảnh, cảnh lại bâng khuâng như chẳng
vướng tình.
Trong chữ “Yên hoa”, tôi thấy chữ Yên từ bộ Hỏa, nếu
dịch sát nghĩa phải là “khói hoa”. Nhưng khói hoa thì không thơ mộng
nữa. Có lẽ thi nhân muốn nói hương của hoa bát ngát lan tỏa như khói
chăng?
Tự biên tự diễn như thế nên tôi … tự chế mà dịch theo
thể song thất lục bát như vầy:
“Từ phương tây người rời Hoàng Hạc
Xuống Dương Châu hoa ngát tháng ba
Cánh buồm lẻ bóng xa xa
Chỉ còn sóng nước nhạt nhòa trời không”
Dù căn dặn cách mấy cũng không ngăn được Manas-thức, với
sự tiếp tay của Alaya-thức, lôi trong kho chứa ra những câu thơ của
Thanh Tịnh mà tôi từng nắn nót từ thời trung học:
“Bên rừng em hãy lặng nhìn theo
Có phải chăng em, ngựa xuống đèo?
Chị ngỡ như chàng lên tiếng gọi
Trên mình ngựa hí, lạc vang reo
Tên chị, ai gieo giữa gió chiều
Phải chăng em hỡi, tiếng chàng kêu?
Trên giòng sông lặng, em nhìn thử
Có phải chăng người của chị yêu?”
Trời hỡi! lữ khách nào mà đi cho nổi khi có người đưa
tiễn thiết tha đến thế! Tôi còn chưa tỉnh với ma lực tuyệt vời của
thơ nhạc này thì tâm thức tôi lại ngân lên những câu trong bài Tống
Biệt Hành của Thâm Tâm:
“Đưa người, ta không đưa qua sông
Sao nghe tiếng sóng ở trong lòng?
Nắng chiều không thắm, không vàng vọt
Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong?”
Lạ quá, sao tôi cứ đọc một bài thơ Đường thì một bài thơ
nôm, trong cùng ý tứ, lại nảy ra? Tôi đâu có định so sánh, nhưng tới
đây thì tôi nhận ra là tôi đang có tâm chấp ngã “Thơ Mật của chúng
ta cũng … ngọt quá, có thua gì thơ Đường của Trung Hoa đâu, sao ta
không truyền thật nhiều cho nhau đọc rồi mời những người bạn Trung
Hoa yêu thơ đọc để họ dịch ra … chữ Tầu? Ta sợ cái gì chứ? Chẳng lẽ
mặc cảm ngàn năm đô hộ, theo ta vạn năm sao? Sao không hãnh diện nhớ
những cái đáng nhớ về ông hàng xóm, thân khổng lồ mà tim nhỏ xíu
này? Như, sau cả ngàn năm cai trị vẫn không đồng hóa nổi dân ta thắt
bím tóc, đội nón tròn? Như, điểm son sáng rực trong sử sách khi anh
hùng Lý Thường
Kiệt của chúng ta mang châu chấu sang đá xe mà xe ngã lăn quay tơi
tả?
Như, khi Hai Bà Trưng phất cờ khởi nghĩa, tướng Tầu chạy rách áo,
sút giầy? vân vân và vân vân”
Đây chỉ là những tản mạn, lạm bàn của riêng tôi, trong
một buổi làm biếng, không có gì nghiêm trọng cả. Nếu có làm phật
lòng chư liệt vị nào ưa chuộng thơ Đường thì đó là điều ngoài ý
muốn. Xin lượng thứ cho.
Chưa kịp gấp sách thì gió vô tình lật qua trang thơ
Vương Duy, có bài rất độc đáo, tựa là Tống Biệt:
“Hạ mã ẩm quân tữu …”
Mới đọc nhẩm câu đầu thì bạn từ đâu tới, phát ngôn ngay:
- Xuống ngựa, uống rựơu của lính.
Tôi sửng sốt nhìn bạn, tưởng như mình nghe lầm! Thấy bản
mặt kinh hãi của tôi, bạn nhanh nhẩu giải thích:
- Hạ là xuống. Mã là ngựa. Ẩm là uống. Quân là lính. Tửu là rượu.
Thế nguyên câu “Hạ mã ẩm quân tửu” không phải là “Xuống ngựa uống
rượu của lính” hay sao?
Tôi vội
vàng gấp cuốn Đường Thi cái rụp, e rằng bạn nổi hứng dịch tiếp thì
rắc rối to với ông Vương Duy.
“Chiều
làm biếng” của tôi đã quá bận rộn lúc nào mà tôi không hay!