.

PSN
BỘ MỚI 2009
HỘP THƯ

                            TRANG CHÍNH

Không tự do chê trách, chẳng bao giờ có lời khen mát lòng - Sans la liberté de blâmer, il n'est point d'éloge flatteur " (Beaumarchais)

bút
việt
hồn
quê

 


 

 

  Xem toàn Thư mục Phan Quân

 

  • PSN - 8.03.2009

CHƯƠNG BỐN

 

Rất bất bình với trường hợp đi vào bí mật của ông Phụ Tá Hồ Viết Mai, ban chỉ đạo Quốc Tiến triệu tập một phiên họp khẩn cấp để thảo luận về vấn đề đó và bài tỏ thái độ của đảng. Một lần nữa, ban chỉ đạo có thơ riêng, đặc biệt khẩn khoản yêu cầu Tổng Thống Nguyên đến dự. Nhưng, cũng như những lần trước kia, lời yêu cầu của ban chỉ đạo không được đáp ứng. Tổng Thống không đến họp mà cũng không báo trước và cũng chẳng cần cho biết lý do. Lý lẽ đơn độc và chủ đạo mà ông Nguyên dựa vào để không đến dự là ông làm Tổng Thống cho mọi người chớ không phải lệ thuộc vào Quốc Tiến. Cho nên, đến ngày họp, người ta chờ mãi không được đành khai mạc phiên họp trễ gần hai tiếng đồng hồ.

 

Thái độ đó của Tổng Thống Nguyên đã làm cho bầu không khí của buổi họp càng lúc càng gia tăng mức độ chống đối và càng lúc chiều hướng thảo luận càng thêm mất cảm tình đối với Tổng Thống. Bao nhiêu người lên diễn đàn là bấy nhiêu trường hợp cụ thể cho thấy thái độ khinh thường của Tổng Thống Nguyên đối với Quốc Tiến, cái nôi cho sự nghiệp chánh trị của Tổng Thống. Sau một ngày thảo luận, ban chỉ đạo biểu quyết là nên gửi lên Tổng Thống Nguyên một bức tâm thư cuối cùng.

 

"Sài Gòn, ngày ... tháng ... năm ...

 

"Kính thưa chánh hữu Tổng Thống,

 

"Cho tới giờ phút này, mặc dù sau hai biến cố quan trọng có liên hệ đến Quốc Tiến, việc Tổng Thống bổ nhiệm Thủ Tướng Trần Huyền Thanh không tham khảo đảng và việc Tổng Thống để cho ông Phụ Tá Hồ Viết Mai bị truy bắt về tội liên lạc với Cách Mạng Lâm Thời Miền Nam, mặc dù có sự ủy nhiệm của Tổng Thống, Quốc Tiến vẫn còn coi chánh hữu là một đảng viên, tuy sai quấy nhưng còn điều chỉnh được. Ở thời điểm một nữa nhiệm kỳ tổng thống, xin chánh hữu hãy bình tâm nhìn lại trên hành trình đã qua xem Quốc Tiến đã làm được những gì cho dân tộc và quê hương.

 

"Trước kia, trên cương vị một đảng đối lập, chúng ta đã có những nhận định chánh trị bén nhọn khiến cho các chánh phủ đương thời phải kiêng nể, dù là chánh quyền độc tài gia đình trị hay chánh phủ quân nhân sắt thép, và được quần chúng nhơn dân thương mến. Nhờ vậy mà liên danh Quốc Tiến đã thắng vẻ vang trong kỳ bầu cử đầy tánh dân chủ vừa qua. Ðược như thế là nhờ Quốc Tiến chúng ta biết đoàn kết, biết yêu thương nhau trong tình chánh hữu, mỗi người vì mọi người và mọi người vì mỗi người, và biết tiếp nhận những khuyến cáo từ mọi nơi đến với chúng ta.

 

"Từ khi chánh hữu lên làm Tổng Thống đến nay tinh thần đoàn kết trong Quốc Tiến đả có nhiều khâu trở nên lỏng lẻo, yếu kém đi. Chúng ta đã biết đoàn kết trong khó khăn gian khổ thì hôm nay tại sao lại thiếu đoàn kết khi đảng có chánh quyền trong tay?

 

"Phiên họp ngày hôm nay của ban chỉ đạo nhận định rằng từ khi nhậm chức đến nay, vì một áp lực thầm kín và được sự bao che bí mật nào đó, chánh hữu đã khinh thường những lời nói của Quốc Tiến. Sau bao nhiêu cố gắng không thành của đảng để đem chánh hữu trở về với lương tri của người đảng viên Quốc Tiến, một chánh đảng đã đưa chánh hữu lên ngôi vị cao cả của đất nước hôm nay, ban chỉ đạo, một lần nữa và cũng là lần cuối cùng, kêu gọi chánh hữu hãy tỉnh ngộ để lèo lái con thuyền quốc gia và cứu vớt thanh danh của Quốc Tiến.

 

"Quốc Tiến xin trân trọng dành cho chánh hữu cơ hội cuối cùng này để xét lại hành động của mình, trước khi đảng bị bắt buộc phải chính thức và công khai có biện pháp đối với một đảng viên không thức thời.

 

"Thân hữu kính chào và rất hy vọng chánh hữu Tổng Thống sẽ hồi tâm vì quyền lợi tối thượng của đất nước và vì phẩm chất của Quốc Tiến."

                                                                                                                       

                                        (Toàn thể ban chỉ đạo đồng ký)

 

Ðọc qua một lần thư khuyến cáo đó, Tổng Thống Nguyên đã thấy nóng mặt. Khi nhìn vào những chữ ký ở cuối thư có chữ ký của Trần Việt, ông phó của ông, Tổng Thống không còn nén được cơn giận nữa. Sẵn cục thủy tinh dằn giấy trong tầm tay, Tổng Thống ném mạnh vào chân tường trước mặt làm cho sĩ quan tùy viên phải chạy vào nhưng vội lui ra ngay khi thấy Tổng Thống khoát tay. Ông Nguyên nghĩ rằng khuyến cáo thư này là sản phẩm của người chánh hữu thù nghịch với ông từ lúc chuẩn bị ứng cử Tổng Thống. Tuy nhiên, khi cơn giận đã nguôi ngoai thì Tổng Thống cũng có vẻ đăm chiêu.

 

Nhưng, nghĩ đi rồi nghĩ lại, Quốc Tiến có khai trừ thì ông mất gì? Không mất gì cả khi ông đã có quyền hành trong tay. Trái lại, giờ đây ôm lấy sự ủng hộ của Mỹ thì sự tồn tại trên uy quyền của đất nước này là điều bảo đảm cho ông. Cái gương của những lãnh tụ biết nghe khuyến cáo của Huê Kỳ lại đến với ông. Họ đã tồn tại trên chính trường của đất nước họ. Nếu chẳng may phải rời khỏi quyền bính thì Mỹ cũng chuẩn bị cho con đường rút lui.

 

Nửa đường của một nhiệm kỳ, Quốc Tiến đã giúp cho ông được những gì mà bây giờ đảng lại phiền trách ông? Lưu nhiệm tướng Thái với sự đồng ý của đảng, ông chỉ mang lấy phiền muộn. Nghe theo ông Phụ Tá Hồ Viết Mai, người của đảng, liên lạc với bên kia thì cũng chỉ là thất bại lại còn lôi thôi với Mỹ! Trái lại, dung hòa được đòi hỏi của Mỹ và ý muốn của riêng ông, như vụ đưa Trần Huyền Thanh lên làm Thủ Tướng, thì ông được yên thân để từ từ mà thâu lượm thành quả.

 

Tại sao ông lại phải khước từ lời khuyên của Mỹ, một nước dám đưa người và của vào Việt Nam? Dựa vào một thế lực như thế và biết dung hòa khôn khéo để củng cố uy quyền chánh trị trong nửa nhiệm kỳ còn lại thì làm gì mà ông không đắc cử Tổng Thống một lần nữa? Bấy giờ, ông sẽ rộng tay quyền thế và dù cho Quốc Tiến có muốn đối lập với ông đi nữa thì cũng chẳng làm gì được ông. Cuộc chia ly nào cũng có một đôi chút đớn đau. Cuộc chia tay của Tổng Thống Nguyên với Quốc Tiến không tránh khỏi chuyện thường tình đó. Nhưng, người đi bao giờ cũng dễ quên niềm đau xót chia phôi hơn người ở lại vì trước mặt người đi là cả một vùng trời đầy hứa hẹn.

 

Tin Tổng Thống Nguyên bị loại trừ khỏi Quốc Tiến, tuy không được chánh đảng này loan báo, nhưng giới chánh trị của Sài Gòn đều hay biết. Người có phản ứng trước tiên là Đại Sứ Huê Kỳ tại Việt Nam. Trường hợp này đã được ông Đại Sứ đem ra thảo luận với Tổng Thống Nguyên nhân một lần hội kiến tại Dinh Ðộc Lập:

   - Chúng tôi cảm thấy ngạc nhiên, khó chịu và rất tiếc khi thấy Quốc Tiến phủ nhận Tổng Thống!

   - Chuyện đó có gì quan trọng đâu, ông Đại Sứ? Ông Đại Sứ không cần phải lo nghĩ nhiều. Ở tư thế Tổng Thống, tôi không muốn và không thể là người của một chánh đảng nữa. Tôi thuộc về toàn dân.

   - Dù sao cũng là một chuyện đáng tiếc. Ngồi ở ghế chánh quyền mà có hậu thuẫn của một chánh đảng vẫn quý hơn là mồ côi chánh trị. Tổng Thống không thấy Tổng Thống nước tôi sao?

   - Ðành là như thế. Nhưng, là một người yêu nước, tôi phải biết và phải có can đảm hy sinh một lợi ích nhỏ, mang tính cá nhân, cho đại cuộc.

   - Một hành động ngoạn mục! Nhưng, tôi chỉ e ngại là hành động như thế, Tổng Thống làm cho các chánh đảng khác sẽ hoài nghi Tổng Thống. Quốc Tiến đã từng gầy dựng sự nghiệp chánh trị cho Tổng Thống mà Tổng Thống còn đối xử như vậy thì số phận của những chánh đảng khác sẽ như thế nào đây?

   - Ông Đại Sứ lại đứng trên cương vị của một người Huê Kỳ mà nhìn vào chánh trị Việt Nam Cộng Hòa chúng tôi nữa rồi! Ông Đại Sứ chắc còn nhớ. Tôi thường cho ông Đại Sứ biết rằng chánh đảng ở Việt Nam này không là gì hết. Chỉ là một sự tập hợp của một nhóm người gọi là lãnh tụ của đảng đó mà thôi. Còn đảng viên thì chỉ là những người dân ngây thơ bị dụ dỗ bằng những miếng mồi lợi lộc hay điều kiện sinh sống qua một nước sơn hào nhoáng mà mấy ông cổ động viên tô vẽ nên. Nhưng, buồn thay, mấy ông tự cho là lãnh tụ kia lại là những kẻ rộng miệng to tiếng hơn ai hết! Và, chính cái thiểu số ồn ào đó lại được người ngoài chú ý tới, nhất là những người đã mang một truyền thống dân chủ trong huyết quản, như người Tây phương, người Mỹ các ông chẳng hạn.

   - Tổng thống lại có một hình ảnh không mấy đẹp về chánh trị Việt Nam Cộng Hòa này rồi! Dân gian thường nói "giận quá mất khôn" kể cũng đúng. Chúng tôi thì thấy rằng từ 1954 đến nay, Việt Nam Cộng Hòa đã có nhiều nỗ lực để tiến đến một chân trời dân chủ tốt đẹp. Nhưng, tiến trình chánh trị này đã bị nhiều cuộc chánh biến làm lu mờ đi, nhất là thời kỳ chánh quyền quân nhân của mấy ông tướng học làm chánh trị! Ngày nay, sau cuộc bầu cử vừa qua và với một nhân vật chánh trị ngồi ghế chánh quyền, ai ai cũng tin tưởng rằng dân chủ sẽ lớn mạnh ở đây. Như vậy mới đương đầu lại cộng sản miền Bắc một cách thắng lợi được.

   - Ðó là một điều lý tưởng, ai lại không mong muốn, ông Đại Sứ? Nhưng, điều kiện cho một lý tưởng như vậy chưa có thì làm sao mà đạt được lý tưởng đó? Cũng như khi nuôi nấng con cái trong nhà, ai cũng muốn cho chúng sớm thành nhơn. Nhưng, khi chúng chưa đủ sức làm người thì ai có can đảm phó thác tất cả cho chúng? Dân chủ ở đây cũng thế thôi. Người dân Việt Nam chưa đủ trưởng thành để sống thật dân chủ. Họ cần được hướng dẫn thêm nữa. Ông Đại Sứ thấy không? Chính thể nào cũng vậy, từ thế giới da trắng sang vũ trụ da vàng hay da đen nó đều biến đổi, tùy theo phong tục tập quán.

   - Tôi nghĩ dân tộc Việt Nam đã được hướng dẫn khá đầy đủ trên hành trình dân chủ.

   - Ðược hướng dẫn là một chuyện. Có đủ sức để đi một mình hay không lại là chuyện khác.

   - Chúng tôi nghĩ rằng Việt Nam Cộng Hòa này ngày nay đã thừa sức tự  lập trên bước đi chánh trị nên Huê Kỳ đang chuẩn bị trao trả trọng trách lại cho Ðệ Nhị Cộng Hòa trong một ngày không xa nữa. Phương thức giao hoàn quyền bính sẽ được thảo luận tại hội nghị thượng đỉnh sắp tới tại Wake, giữa Tổng Thống nước tôi và cá nhơn Tổng Thống. Hôm nay, mục đích của tôi đến gặp Tổng Thống là để đạt lời mời của tòa Bạch Ốc lên Tổng Thống. Nhân dịp này, tôi được biết thêm một quan niệm khá độc đáo của Tổng Thống về chánh trị theo màu da. Nhờ vậy mà tôi được hiểu thêm về Tổng Thống, điều mà tôi sẽ không quên trình lên Tổng Thống nước tôi, trong tinh thần của hội nghị thượng đỉnh sắp tới.

 

*  *  *

 

Tin mở hội nghị thượng đỉnh Việt-Mỹ ở Wake làm cho mọi phương tiện truyền thông và mọi giới chánh trị Sài Gòn xôn xao khá nhiều. Người ta cho rằng rồi đây sẽ có một quyết định chánh trị quan trọng liên hệ đến Việt Nam. Với viễn ảnh tái ứng cử của Tổng Thống Huê Kỳ đương nhiệm, người quan sát chánh trị Việt Nam Cộng Hòa cho rằng kỳ này Mỹ sẽ có một quyết định gây chấn động mạnh. Trước là để trấn an dư luận chống đối chiến tranh Việt Nam tại Huê Kỳ. Sau đó là xoa dịu đối phương để cho công cuộc giải kết toàn diện của Mỹ không tạo ra một kẻ hở quan trọng trên tuyến be bờ cộng sản ở Ðông Nam Á, mà điểm then chốt là chiến trường Việt Nam. Như thế, Tổng Thống tại chức của Mỹ sẽ có nhiều hy vọng hốt phiếu để thắng cử cho nhiệm kỳ hai của ông. Thế nhưng, với hai nguyên nhân đó thì sự giải kết của Mỹ sẽ là một thiệt thòi lớn lao cho Việt Nam Cộng Hòa.

 

Tình hình của Việt Nam đang tới một khúc quanh nguy hiểm, vậy mà Tổng Thống Nguyên ở chức vụ đã một nửa nhiệm kỳ rồi nhưng chưa tạo được một thế chánh trị nào đáng kể hết. Ông cứ phải xoay quanh những hành động đền ơn đáp nghĩa, củng cố tư thế, triệt tiêu đầu này, chống phá ngả kia để rồi chẳng làm được điều gì quan trọng cho đất nước và chế độ.

 

Giờ đây, với chiều hướng Mỹ muốn tiến hành một đường lối mới ở Việt Nam để rút chân ra, mà uy tín và giá trị cường quốc của họ không bị sứt mẻ, một chế độ non yếu như thế liệu sẽ ăn nói như thế nào với Mỹ ở thượng đỉnh đây? Ðã vậy mà Tổng Thống Nguyên lại còn mất chỗ dựa chánh trị khá vững chắc là Quốc Tiến nữa!

 

Huê Kỳ đang chuẩn bị làm một cơn bão chánh trị thổi vào Việt Nam thế mà ông Nguyên càng ngày càng trở thành một vị Tổng Thống cô đơn, thiếu hẳn phương tiện che chắn. Ðã lệ thuộc vào ông Đại Sứ Ellis Bagwell, sau mấy chuyện bị Mỹ cho là sai quấy, nay Tổng Thống Nguyên càng lệ thuộc ở Huê Kỳ nhiều hơn nữa.

 

Nhận định tình hình như thế, giới chánh trị Sài Gòn cảm thấy rất lo ngại trước viễn ảnh của một giải pháp chánh trị do người ngoài mang lại cho đất nước và cho chính họ. Theo sáng kiến của Quốc Tiến, các chánh đảng và đoàn thể tôn giáo và xã hội đã họp lại thảo luận để tìm một hướng đi đáp ứng lại tình hình vì họ không còn tin tưởng ở Dinh Ðộc Lập nữa.

 

Họ lo sợ với nỗi lo sợ của đồng bào miền bắc di cư hồi 1954. Người ta họp nhau ở Genève, người ta xẻ ngang đất nước mình thật dễ dàng vì chỉ cần phác một nét bút chì trên bản đồ. Thế là hàng triệu người dân miền Bắc phải đàn đúm nhau kéo chạy xuống phía Nam, sau khi được lệnh di cư mà như sét đánh ngang tai! Ðấy, mất quyền tự quyết một lần mà tởn đến già.

 

Sau cuộc họp, các chánh đảng, các đoàn thể tôn giáo và xã hội Việt Nam Cộng Hòa đồng tình quyết định kết hợp lại thành một khối với danh xưng:"Mặt Trận Toàn Dân Tự Quyết". Tôn chỉ duy nhất của mặt trận này là "Ðòi hỏi mọi giải pháp cho Việt Nam phải là của người Việt Nam, do người Việt Nam chủ xướng và chính người Việt Nam quyết định". Môi trường chánh trị Sài Gòn, từ hai năm qua đã có phần lắng đọng, nay lại bắt đầu sôi nổi hẳn lên.

 

Sự hồi sinh khá ồn ào của hoạt động chánh trị tại thành phố thủ đô làm cho Tổng Thống Nguyên rất khó chịu. Tổng thống triệu tập một phiên họp của bộ tham mưu chánh trị để phản ứng lại thế đang lên của Mặt Trận Toàn Dân Tự Quyết. Nhìn qua thành phần của mặt trận, Tổng Thống đoán ngay là xuất phát từ Quốc Tiến, chứ đảng Hưng Việt, lực lượng Ðại Ðoàn Kết, hay thậm chí các tôn giáo lớn cũng không tập hợp nổi. Với nhận xét đó, Tổng Thống Nguyên càng thêm cơn giận vì cảm thấy bị đảng gốc của mình chơi khăm.

 

Căn cứ trên các đề nghị của bộ tham mưu chánh trị, Tổng Thống Nguyên cảm thấy hơi yên tâm, nếu không muốn nói là hân hoan. Tổng thống sẽ dựa vào sức hồi sinh chánh trị mới của Sài Gòn và nhất là của Mặt Trận Toàn Dân Tự Quyết để làm cơ sở trong kỳ thượng đỉnh sắp tới. Một thủ đoạn chánh trị mà Tổng Thống nghĩ là có khả năng thành công.

 

Từ khi vào ngồi ở Dinh Ðộc Lập đến nay, đây là lần đầu tiên Tổng Thống sẽ diện đối diện với Tổng Thống Huê Kỳ, một nhà lãnh đạo mà cả thế giới kính nể. Bởi thế nên, Tổng Thống Nguyên chuẩn bị cuộc trực diện lịch sử và quyết định đó thật chu đáo.

 

Tổng thống chỉ định ông Phụ Tá Giao Tế Nhân Sự làm trưởng "Ðoàn Ðặc Nhiệm Thượng Ðỉnh Wake" và cho ông Phụ Tá toàn quyền điều động. Tuy nhiên, mọi ý kiến và chi tiết phải qua sự duyệt xét của chính Tổng Thống vì ông quan niệm rằng đây chính là cơ hội tốt để tạo dựng uy tín chánh trị trong nước cũng như ngoại quốc cho cá nhân ông.

 

Tổng thống mừng thầm vì ông đã mất hai năm rồi, giờ đây phải là cơ hội cho thời kỳ đang phất của ông. Thượng đỉnh Wake mà thành công thì hình ảnh và tiếng tăm của Tổng Thống sẽ bay đi khắp bốn phương. Thế là, cánh cửa vào nhiệm kỳ hai của ông sẽ rộng mở và những nhiệm kỳ kế tiếp nữa, nếu cần, dẫu cho Hiến Pháp chỉ quy định có hai nhiệm kỳ. Đã có thế, có quyền, chuyện tu chánh Hiến Pháp đâu phải là điều nan giải.

 

Chương trình thượng đỉnh phó hội của Tổng Thống được ông Phụ Tá cho nghiên cứu thật kỹ lưỡng và ghi từng chi tiết một. Ðống hồ sơ nghi lễ lưu trữ, bụi bặm, mốc meo từ thời cố Tổng Thống Ngô Ðình Diệm chất đống dưới hầm Dinh Ðộc Lập cũng được lệnh ông Phụ Tá cho moi ra để rút kinh nghiệm chuyến đi Mỹ của ông Diệm. Những thành viên trong đoàn đặc nhiệm phải một phen làm việc vô cùng tích cực. Rồi cũng phải thành hình một kịch bản cho chuyến đi phó hội của Tổng Thống. Một bản chương trình khá tỉ mỉ và chi tiết, chưa chắc có một nhà đạo diễn nào làm như thế. Nhưng, Tổng Thống Nguyên cũng chịu khó ngồi nghe ông Phụ Tá thuyết trình vào mỗi buổi tối tan sở để thêm hay bớt một vài nghi thức nhỏ nhặt.

 

Bản chương trình chung cuộc được chuyển sang tòa Đại Sứ để đúc kết lại rồi gửi về tòa Bạch Ốc. Những đòi hỏi của Dinh Ðộc Lập về những hình thức nghi lễ làm cho nhân viên phụ trách của tòa Đại Sứ phải bức tóc, gãi tai. Sau khi tham khảo với Hoa Thịnh Ðốn, Mỹ cũng thỏa mãn Dinh Ðộc Lập vì là những đòi hỏi hợp lý trên nguyên tắc nhưng lại nghịch lý đối với một nước nhận viện trợ của Huê Kỳ. Tuy nhiên, Hoa Thịnh Ðốn có lý do riêng để chiều lòng một ông Tổng Thống mà họ cho rằng không có Mỹ thì khó ngồi lâu trên ghế Tổng Thống. Trong mọi cuộc thương thuyết, dung hòa quyền lợi của nhau là yếu tố cần thiết để hai bên thỏa hiệp được với nhau. Và, lần này chưa ai biết vì sao Hoa Thịnh Ðốn lại nuông chiều Sài Gòn như vậy?

 

Chiếc máy bay phản lực Caravelle của công ty dân sự Hàng Không Việt Nam, bị trưng dụng và được biến cải, bên trong lẫn bên ngoài, thành phi cơ riêng của Tổng Thống, nhẹ nhàng di chuyển một cách bệ vệ trên đường từ phi đạo vào bến đậu danh dự của phi trường quân sự hải đảo Wake, theo sau một chiếc xe hướng đạo, mang hai chữ "Hãy theo tôi" (Follow me) bằng đèn đỏ ở phía sau xe. Ở hai đầu cánh phi cơ và ngoài xa với một khoảng cách an toàn là hai chiếc xe Jeep có trí súng đại liên do hai xạ thủ phụ trách trong thế đứng và sẵn sàng tay cò, mặc dù hải đảo là một phần của nước Mỹ không chiến tranh. Nhưng, những thủ tục này được thực hiện theo yêu cầu của "Ðoàn Ðặc Nhiệm Thượng Ðỉnh Wake". Coi cho có vẻ oai hùng.

 

Từ xa và qua khung cửa sổ phi cơ, Tổng Thống Nguyên nhìn thấy khung cảnh của lễ tiếp đón mà hài lòng, nét mặt hân hoan hãnh diện, miệng mĩm cười. Ông vẫy tay gọi ông Phụ Tá trưởng đoàn đặc nhiệm thượng đỉnh lại chỉ ra ngoài cửa sổ và nói khẽ một đôi điều gì đó. Ông Phụ Tá vui cười đỏ cả mặt, dường như vừa được một lời ban khen của thượng cấp.

 

Tại địa điểm hành lễ nghênh tiếp, dưới cơn nắng nóng giữa trưa và bị làn gió biển quấy rầy, quan khách sốt ruột chờ máy bay Tổng Thống từ từ chậm rãi bò vào, dẫu cho chiếc xe hướng đạo chạy trước rất xa như muốn thúc giục. Ðoàn người chào đón nhìn chiếc máy bay một cách ngạc nhiên vì nó được sơn phết theo mẫu hình của chiếc "Air Force One", phi cơ riêng của Tổng Thống Huê Kỳ, ngoại trừ màu sắc và vóc dáng.

 

Thay vì màu xanh dương và xanh da trời của chiếc Boeing Mỹ thì chiếc Caravelle (loại phi cơ phản lực của Pháp) của Hàng Không Việt Nam được sơn bằng màu lục lá cây và xanh lá mạ. Ðây là sáng kiến của ông Phụ Tá, ban đầu Tổng Thống Nguyên thấy hơi kỳ, có thắc mắc nhưng ông Phụ Tá giải thích là màu quốc huy trên phi cơ Không Quân Việt Nam cũng y hệt như màu cờ trên máy bay quân sự Mỹ thì đã sao đâu. Và thay vì mang danh hiệu "Không Lực Một" như phi cơ Tổng Thống Mỹ, máy bay của Tổng Thống Nguyên được đặt tên là "Ðại Bàng", vốn là ám hiệu vô tuyến của Tổng Thống.

 

Chiếc "Ðại Bàng" oai vệ tiến vào chỗ đậu dành riêng cho thượng khách, dưới sự hướng dẫn của một chuyên viên phi đạo, hai tay hai biển tín hiệu để ra dấu cho phi công dừng máy bay đúng chỗ. "Ðại Bàng" vừa ngừng bánh thì Tổng Thống Nguyên đã bước vào phòng rửa mặt để làm nhẹ người, sửa lại dung nhan và điều chỉnh y phục. Một nhân viên phục dịch đã sẵn sàng ở cửa phòng, bình keo xịt tóc và bàn chải trong tay chờ để điều chỉnh và ổn định mái tóc, cũng như phủi bụi trên quần áo của Tổng Thống.

 

Cánh cửa phi cơ vừa mở thì ông Đại Sứ Việt Nam tại Hoa Thịnh Ðốn, di chuyển đặc biệt đến Wake từ mấy ngày trước, và giám đốc nghi lễ của Bạch Cung đã bước vào nghiêng mình chào mừng Tổng Thống. Kế tiếp là ông Đại Sứ Việt Nam trình bày ngắn gọn với Tổng Thống Nguyên những nghi thức mà Tổng Thống sẽ được phía Huê Kỳ dành cho khi Tổng Thống ra khỏi phi cơ.

 

Nói là ngắn gọn nhưng bằng lời lẽ kiểu cách văn hoa cố hữu của các ngài đại diện ngoại giao, ông Đại Sứ hơi dài dòng nên ông giám đốc nghi lễ hơi bồn chồn vì dưới kia Tổng Thống Huê Kỳ đang đứng đợi. Thế nhưng, Tổng Thống Nguyên còn hỏi thêm đôi ba chi tiết gì đó.

 

Tổng thống đứng lên bắt đầu bước đi, ông Đại Sứ nối gót theo sau vừa đi vừa nói thêm để lấy lòng Tổng Thống:

- Kính thưa Tổng Thống, đây thật là một cuộc nghinh tiếp vô cùng trang trọng. Có đủ cả lễ nghi quân cách lẫn nghi lễ ngoại giao. Lần đầu tiên chúng tôi mới thấy Hiệp Chúng Quốc Huê Kỳ tiếp đón lãnh tụ một nước nhận viện trợ Mỹ, dạ thưa Tổng Thống, chúng tôi muốn nói là một nước đang phát triển, long trọng đến như thế. Tòa Đại Sứ chúng tôi phải trải qua không biết bao nhiêu ngày làm việc vất vả với phía Mỹ để được như thế này.

 

Tổng thống Nguyên lặng thinh, không nói ra một lời khen tặng nào dành cho ông Đại Sứ của mình vì ông thừa biết rằng phần lớn công việc đã qua đoàn đặc nhiệm của Dinh Ðộc Lập. Trong khi đó, ông Đại Sứ cứ tiếp tục trình bày những gì gọi là công trình của Đại Sứ Quán trong công cuộc sắp xếp cho chuyến đi của Tổng Thống được thành công.

 

Tổng thống vừa xuất hiện ở cửa phi cơ thì tiếng nổ đầu của loạt hai mươi mốt phát súng thần công bắt đầu vang dội vào vách núi bên kia phi trường để dội trở ra rồi mất hút vào biển cả. Ðoàn chim biển phải một phen ngỡ ngàng vì những tiếng nổ bỗng dưng ầm ĩ giữa bầu không khí bao lâu nay chỉ có sóng vỗ rì rầm và thùy dương rì rào.

 

Tổng thống chầm chậm và khoan thai bước xuống chiếc thang, bắt từ cửa phi cơ xuống đất, như đếm từng bước một. Từ chân cầu thang đến bục danh dự, đặt cách đó chừng năm mươi thước, Tổng Thống đi trên tấm thảm nhung đỏ và giữa hai hàng quân danh dự, quân phục thẳng nếp, dài đen bóng lộn, phù hiệu sáng chói và vũ khí ở thế chào.

 

Tổng thống đến chân bục danh dự thì phát đại bác thứ hai mươi mốt cũng vừa nổ xong và cùng lúc đó Tổng Thống Huê Kỳ tươi cười bước tới bắt tay Tổng Thống Nguyên, giữa những ánh đèn lóe chớp của các máy thu hình và nhiếp ảnh. Tổng thống Mỹ dìu Tổng Thống Nguyên lên bục danh dự làm lễ chào quốc kỳ. Quốc thiều Việt Nam lần đầu tiên vang lên trong bầu không khí yên tĩnh của hải đảo chưa bao giờ chứng kiến được một quang cảnh lễ lạt to như thế. Sau đó là quốc thiều của Huê Kỳ.

 

Lễ chào cờ chấm dứt, Tổng Thống Huê Kỳ hướng dẫn Tổng Thống Nguyên duyệt qua đội ngũ dàn chào gồm ba binh chủng hải, lục và không quân theo nhịp điệu của một bản nhạc quân hành. Nhưng, Tổng Thống Nguyên không nghe tiếng nhạc mà cũng chẳng thấy những hàng quân binh phục rực rỡ trước mắt vì ông chỉ nghe tiếng thổn thức của con tim trong lồng ngực đang đập mạnh vì hãnh diện và sung sướng và chỉ thấy viễn ảnh của những ngày mai ngời sáng trong sự nghiệp chánh trị của ông. Tổng thống thấy trước trong tâm tư những hình ảnh hôm nay của ông rồi đây sẽ được đăng trên báo Mỹ và Việt Nam. Ôi, sao mà rỡ ràng!

 

Kế tiếp, Tổng Thống Huê Kỳ đưa Tổng Thống Nguyên bước sang đoàn người dân sự và quân sự, những nhân vật quan trọng của hải đảo và của căn cứ hỗn hợp không và hải quân Wake, trong những bộ y phục và quân phục trịnh trọng và chỉnh tề, mặt mày đỏ gay, mùi mồ hôi nồng nặc - dẫu đã được hãm bớt bằng chất hóa học thẩm mỹ chống hôi - vì đã đứng dưới nắng khá lâu.

 

Tổng thống Nguyên máy móc bắt tay từng người một, miệng luôn nở sẵn một nụ cười. Thỉnh thoảng Tổng Thống đưa tay vẫy chào những quân nhân Mỹ hiếu kỳ đứng ngoài xa đưa máy ảnh riêng của họ lên bấm hình người lãnh tụ của một quốc gia đã biết qua trên mặt báo hay trên máy thu hình. Mỗi lần sực nhớ tới chuyện phải chú trọng đến hình ảnh của mình, Tổng Thống Nguyên sửa lại bộ điệu, chân duỗi thẳng, cổ cao, đầu ngẩng và mặt nhìn lên như chừng Tổng Thống muốn vươn mình cho cao bằng Tổng Thống Mỹ, vượt hơn ông một đầu người.

 

Tổng thống Huê Kỳ hướng dẫn Tổng Thống Nguyên vào sảnh danh dự của sân bay. Vừa đến chân thềm thì một thiếu nữ người địa phương thật duyên dáng trong bộ y phục truyền thống của hải đảo tiến đến choàng một vòng hoa chào mừng vào cổ Tổng Thống Nguyên và thêm một nụ hôn nghênh đón quý khách lên má làm cho mặt ông bỗng dưng đỏ lên vì cảm xúc bất ngờ.

 

Mục này, Tổng Thống Nguyên không thấy dự trù trong chương trình vì là sáng kiến vào phút chót của giới thẩm quyền hải đảo. Qua giới thiệu của Tổng Thống Huê Kỳ, Tổng Thống lần lượt bắt tay từng yếu nhơn một. Danh tính và chức vụ của những người đó đều được giới thiệu cho Tổng Thống, nhưng ông đâu còn đủ bình tĩnh để nhớ tất cả. Sau đó, Tổng Thống Nguyên cùng với Tổng Thống Huê Kỳ lên một chiếc xe đặc biệt, từ Hoa Thịnh Ðốn đưa sang, theo sau là một đoàn xe dài, để đi về khu biệt xá của căn cứ.

 

Trên xe, Tổng Thống Nguyên muốn trách khéo Tổng Thống Huê Kỳ:

- Thưa Tổng Thống, dân chúng ở đây có vẻ không thích tham dự vào những cuộc lễ tiếp đón khách lạ nhỉ?

Tổng thống Mỹ hiểu ý Tổng Thống Nguyên nên mĩm cười, trả lời:

- Người Mỹ chúng tôi thường có một tâm tư để ngoài da, nghĩ sao thì làm vậy. Nhưng, thưa Tổng Thống, chắc Tổng Thống cũng rõ, Wake này là một đảo san hô rộng không đầy tám cây số vuông và có ba trăm dân, do ông cha chúng tôi chiếm hữu hồi năm 1898. Chủ yếu ở đây là căn cứ hỗn hợp không và hải quân Huê Kỳ được thành lập trong thời kỳ đệ nhị thế chiến. Có một thời bị Nhựt Bổn chiếm. Cho nên, trên đảo này quân nhân và gia đình của họ đông hơn dân bản xứ. Quần chúng mà Tổng Thống thấy lúc nãy ở phi trường là khả năng tối đa của chúng tôi về nhân sự để tiếp đón Tổng Thống đó. Mong Tổng Thống thông cảm.

- À, thì ra vậy!

 

Chiếc xe chở Tổng Thống Nguyên dừng lại trước một biệt thự, không có vẻ gì là một dinh quốc khách cả. Bước xuống xe, Tổng Thống Nguyên thấy hơi ngỡ ngàng. Ông nhìn quanh như muốn tìm ông Phụ Tá để hỏi cho ra lẽ. Nhưng, Tổng Thống Mỹ đã vui cười lên tiếng phá vỡ tình trạng bỡ ngỡ đó:

- Ở đây, chúng tôi không đủ tiện nghi như ở lục địa. Biệt thự này là tư thất của đô đốc tư lệnh cứ điểm chiến lược "Wake Island" này. Chúng tôi phải mượn tạm và đưa vợ con ông đi nghỉ mát nơi khác để làm nơi tạm trú của Tổng Thống trong thời gian thượng đỉnh. Còn cá nhân ông đô đốc thì lấy một căn phòng ở khu BOQ (Bachelor Officers' Quarter) của sĩ quan độc thân. Còn tôi, tôi ở ngay bên kia đường, đối diện với biệt thự của Tổng Thống.

 

Tổng thống cười xòa để phá tan bầu không khi ngượng ngập của khách lẫn chủ. Và ông cũng không thấy khó chịu nữa khi ông nhìn sang căn biệt thự được dùng làm "Bạch Cung di chuyển" cho Tổng Thống Huê Kỳ. Biệt thự đó nhỏ hơn ngôi nhà tạm trú của ông. Tự ái của con người đôi khi cũng được mơn trớn và vuốt ve chỉ bằng những cái không đâu!

 

Từ giả Tổng Thống Mỹ với lời cám ơn xã giao, Tổng Thống bước vào biệt thự, nhìn quanh một lượt rồi mệt mỏi để cả sáu mươi ký của thân hình ông rơi xuống chiếc ghế bành, thở ra một hơi dài, nửa hài lòng, nửa khó chịu. Ông liên tưởng đến lời chào mừng của ông giám đốc nghi lễ Bạch Cung khi lên máy bay tiếp đón ông:"Chào mừng Tổng Thống trên một phần đất nước của Hiệp Chúng Quốc Huê Kỳ" mà lòng cảm thấy đôi chút mỉa mai so với ý nghĩa của một thượng đỉnh. Ông ra lệnh cho mời ngay ông Phụ Tá Giao Tế Nhân Sự, trưởng đoàn đặc nhiệm "Thượng Ðỉnh Wake".

  

Phiên họp khoáng đại chiếm hết trọn ngày, chỉ dừng lại khoảng hai tiếng đồng hồ để ăn nhẹ vào giữa trưa, cho các thành viên của hai phái đoàn có dịp nói chuyện riêng tư, đôi khi cần thiết cho việc mưu tìm sự thông cảm trên một điểm khó khăn nào đó của chương trình nghị sự. Bữa ăn trưa do tư lệnh cứ điểm chiến lược "Wake Island" thết đãi theo lối Mỹ, nghĩa là ăn đứng, lối ăn mà Tổng Thống Nguyên không mấy tán thành trong tiến trình của một thượng đỉnh.

 

Trong suốt bữa ăn, người ta thoáng thấy những dấu hiệu không vui trên sắc diện của Tổng Thống Nguyên dù bên cạnh ông lúc nào Tổng Thống Huê Kỳ cũng tươi cười rạng rỡ. Trái lại, Tổng Thống thường tách khỏi Tổng Thống Huê Kỳ để gặp ông Phụ Tá to nhỏ điều gì đó mà mặt ông Phụ Tá đỏ lên, thiếu vắng nét vui tươi và hân hoan.

 

Trong hai buổi họp, đầy đủ thành phần của hai phái đoàn đều tham dự. Mỗi Tổng Thống đều có sự trợ lực của các tổng bộ trưởng ngoại giao, quốc phòng, kinh tế, tài chính, nội vụ, tham mưu trưởng liên quân và ông Đại Sứ tại nhiệm của mỗi nước. Chỉ riêng bên phía Việt Nam có thêm ông Phụ Tá Giao Tế Nhân-Sự với tư cách là trưởng "Ðoàn Ðặc Nhiệm Thượng Ðỉnh Wake". Do đó, nha nghi lễ Bạch Cung hơi bối rối trong việc sắp xếp chỗ ngồi quanh bàn hội nghị. Dù cho thành phần phái đoàn Việt Nam đã được thông báo trước và ông Phụ Tá được xếp ngang hàng bộ trưởng không bộ nhưng chức năng của ông không liên quan gì đến nội dung thượng đỉnh hết.

 

Chung cuộc, khó khăn cũng được giải quyết bằng cách đặt một chiếc ghế ở ngay sau lưng Tổng Thống Nguyên. Tuy rằng không đẹp về hình thức nhưng cũng hợp lý và ông Phụ Tá cũng không lấy gì làm khó chịu vì trên các bản tin đánh đi, danh tính của ông đều được ghi là thuộc thành phần phái đoàn phó hội Wake. Còn đòi hỏi gì hơn? Cũng như các phụ nữ dễ tính thường tự hào "thà làm bé cho ông lớn, còn hơn làm lớn cho ông bé".

 

Buổi tối là một dạ tiệc do Tổng Thống Huê Kỳ khoản đãi tại câu lạc bộ sĩ quan của căn cứ. Một dạ tiệc đúng theo nghi thức nghênh đón khách quý chứ chưa được ngang hàng dạ yến dành cho quốc khách. Phía Mỹ nại cớ là thiếu địa điểm khang trang, huy hoàng đúng quy cách nên phải đành vậy. Phía Việt Nam thì hơi phiền lòng nhưng biết làm sao hơn vì trong chương trình, khi hai bên phối hợp soạn thảo từ bên nhà cũng ghi là dạ yến do Tổng Thống Huê Kỳ khoản đãi. Thôi thì quốc gia đại sự mới là điều quan trọng, nhằm nhò gì ba cái lẻ tẻ đó.

 

Sau dạ tiệc, hai Tổng Thống gặp riêng tại "Bạch Cung di chuyển" để bàn về một điểm tối mật. Phiên họp diện đối diện này, nằm ngoài chương trình chính thức, được hai bên thỏa thuận ngay trong dạ tiệc, khi hai người dùng rượu khai vị trước khi ngồi vào bàn ăn, nhưng xuất phát từ sáng kiến của Tổng Thống Huê Kỳ.

 

Cuộc hội kiến riêng tư này báo chí không được dự và họ đặt tên là "mật đàm cà phê". Ðặc biệt chỉ một nhiếp ảnh viên riêng của Tổng Thống Huê Kỳ được hành nghề, nhưng cũng giới hạn trong khi hai Tổng Thống bắt đầu gặp nhau. Sau đó, chỉ còn có mỗi mình hai ông nói chuyện với nhau thôi, không cần người phiên dịch vì Tổng Thống Nguyên cũng thông thạo Anh ngữ.

 

Khi mọi nhân viên phục dịch và ông nhiếp ảnh đều ra ngoài, Tổng Thống Huê Kỳ bắt đầu đi thẳng vào vấn đề:

- Ở phiên họp khoáng đại trong ngày, tôi rất thông cảm với Tổng Thống khi chúng tôi đề cập đến vấn đề mở rộng căn bản uy quyền của chế độ Sài Gòn. Chúng tôi nhấn mạnh và nài nỉ mãi điểm đó là vì truyền thống dân chủ của Hiệp Chúng Quốc Huê Kỳ bắt buộc phải có yếu tố đó trong nguyên lý viện trợ của Mỹ đối với những quốc gia cần được giúp đỡ.

- Tổng thống chắc cũng biết rằng sinh hoạt dân chủ của Mỹ và của những nước như chúng tôi khác biệt rất xa. Một nền dân chủ trong hòa bình và một chế độ dân chủ trong chiến tranh. Tổng thống hãy nghĩ lại mà xem. Cộng-sản da trắng và cộng sản da màu cũng khác nhau thì dân chủ cũng thế.

- Tổng thống có lý. Nhưng...

- Khi Huê Kỳ giải kết toàn diện thì Việt Nam Cộng Hòa phải có một lỗ hổng lực lượng đáng kể trong tư thế đối đầu với cộng quân và nhất là trên tiền đồn chống cộng sản ở Ðông Nam Á. Cho đến bây giờ, bước đi Việt hóa chiến tranh và tiến trình giải kết chưa ăn nhịp với nhau. Nay, vì nhu cầu tranh cử của Tổng Thống mà mức độ giải kết lại được đẩy nhanh và mạnh hơn thì chỗ sai biệt kia càng to lớn gấp bội. Vì lợi ích riêng của Tổng Thống mà cả đất nước và dân tộc Việt Nam chúng tôi sẽ phải gánh chịu mọi nguy cơ, liệu lương tâm của Tổng Thống có được yên ổn không?

- Tôi rất hiểu và thông cảm với Tổng Thống. Thế nhưng, tôi rất tiếc và bị bắt buộc phải quyết định như thế vì chẳng còn cách nào khác hơn. Hiện giờ, phong trào phản chiến của quần chúng Mỹ đang lên cao, ý niệm "bồ câu" đang lấn lướt tinh thần "diều hâu" thì cương lĩnh của đảng đối lập đang được lợi. Nếu như, tôi không thắng được để vào nhiệm kỳ hai thì liệu Tổng Thống và Việt Nam Cộng Hòa có được nhiều thuận lợi hơn hay không? Chúng ta hãy tạm thời thỏa thuận với nhau như thế đi, sau bầu cử tôi sẽ cho duyệt xét lại vấn đề.

- Từ nay đến đó, với một tương quan lực lượng bất lợi rất có thể là Việt Nam Cộng Hòa sẽ không còn nữa và như thế uy tín của Tổng Thống cũng không còn để thắng cử. Tôi có cách khác để giúp Tổng Thống được thỏa mãn cả hai mặt, với điều kiện là mỗi bên chúng ta phải nhượng bộ một ít.

- Tổng thống cứ nói.

- Ðể bù trừ vào khuyết điểm quân sự bắt nguồn từ việc triệt thoái toàn bộ quân Mỹ, chúng tôi cần một thế chánh trị mạnh. Mở rộng căn bản uy quyền của chế độ, như Tổng Thống đòi hỏi chúng tôi từ trước đến nay và ngay trong kỳ họp này, không thế nào tạo nên một sức mạnh chánh trị, trong tình hình thực tế và thực tiễn của đất nước chúng tôi đang ở thế chống cộng. Là người của xứ sở, tôi xin phép được nói là không ai hiểu tình hình tổng thể của đất nước chúng tôi hơn chúng tôi.

- Rất đồng ý với Tổng Thống. Nhưng, tôi không thấy có cách nào khác mà vẫn giữ được thể chế dân chủ. Chúng ta không thể độc tài khi chúng ta đòi hỏi dân chúng cùng nhau nỗ lực đấu tranh chống cộng sản mà đường lối chuyên chính vô sản được chúng ta đưa ra làm đối tượng để triệt hạ.

- Không, chúng tôi vẫn bảo tồn dân chủ, nhưng có biết bao nhiêu cách để thực thi dân chủ.

- Thì Hà Nội họ cũng lấy quốc hiệu là Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa mà chế độ đó có dân chủ gì đâu?

- Hoàn toàn đồng ý với Tổng Thống! Tên gọi chưa hẳn nói lên nội dung và danh xưng không quan trọng bằng tinh thần. Chúng tôi sẽ thực thi dân chủ nhưng theo cung cách và tinh thần của đất nước chúng tôi. Tổng thống cứ yên tâm. Nhân dân hay quốc hội Mỹ sẽ không thể lấy bất cứ khuyết điểm chánh trị nào của Việt Nam Cộng Hòa để gây khó khăn cho Tổng Thống được hết, trong việc viện trợ và ủng hộ chúng tôi. Ðã có bao nhiêu người khác trước tôi từng thực thi dân chủ theo cách Á Ðông rồi.

- Nhưng, đâu phải nhờ vậy mà họ tồn tại hay thành công.

- Riêng tôi, tôi tin rằng tôi sẽ thành công và tồn tại với phương thức thực thi dân chủ mà tôi sắp đề nghị cùng Tổng Thống. Tôi không chủ trương một nền dân chủ chỉ huy mà cũng chẳng phải một lối độc tài sáng suốt gì hết. Tôi chủ trương một thể chế "Dân Chủ Trung Dung", một đường lối chánh trị phối hợp Ðông và Tây, giữa Khổng Tử với Montesquieu và Rousseau. Một chính sách mà tôi tin rằng trí thức thành thị, công nhân thành phố hay nông dân miền quê đều chấp nhận. Chỉ cần một điều kiện duy nhất là Huê Kỳ phải ủng hộ tôi bất cứ giá nào và trong mọi tình huống khi chúng tôi thực thi nền "Dân Chủ Trung Dung" đó.

 

Tổng thống Huê Kỳ để lộ nỗi vui mừng vô hạn, ngước mặt lên trần nhà mở to miệng cười khoan khoái. Ông tưởng rằng Tổng Thống Nguyên đòi hỏi những điều kiện khủng khiếp như phóng người lên Kim Tinh. Tổng thống Mỹ siết tay Tổng Thống Nguyên bằng hai tay ôm chặt bàn tay phải của Tổng Thống Nguyên để ca ngợi sáng kiến đó và kéo ông Nguyên đứng lên và choàng tay lên vai một cách thân thiện mà dìu ra cửa.

 

Cả hai người đều vui tươi rạng rỡ trước ống kính của phóng viên trực chờ bên ngoài dù đêm đã về khuya. Ngày hôm sau, báo chí Mỹ đăng bức ảnh thân thiện và tươi cười đó của hai lãnh tụ đồng minh với hàng tựa vô cùng to lớn nói lên sự thành công của thượng đỉnh Wake. Một hội nghị kết thúc hoàn hảo bằng một "mật đàm cà phê" tốt đẹp chưa từng thấy.

 

Dựa trên lời tuyên bố của phát ngôn viên Bạch Cung, cùng họp báo với ông Phụ Tá Giao Tế Nhân Sự, những bài báo đó không tiếc lời ca ngợi:

 

"Tinh thần hợp tác của phái đoàn Việt Nam Cộng Hòa, và đặc biệt là của Tổng Thống Nguyễn Vĩnh Nguyên. Tổng thống Huê Kỳ cũng cho biết rằng, suốt quãng đời chánh trị, chưa bao giờ ông được đối thoại với một nhân vật có tầm vóc quốc tế và có những sáng kiến cao siêu và xuất chúng như Tổng Thống Nguyên. Tổng thống Mỹ cho rằng Huê Kỳ rất hãnh diện được trợ giúp một quốc gia đang tiến bộ như Việt Nam Cộng Hòa, dưới tài lãnh đạo sáng suốt của một nhà lãnh đạo tài ba hiếm có. Tôi chỉ tiếc rằng Tổng Thống Nguyễn Vĩnh Nguyên không xuất hiện sớm hơn để cho Việt Nam Cộng Hòa sớm được hòa bình và thịnh vượng."

 

Tự cảm thấy được cổ võ bằng thành tích của chính mình tại thượng đỉnh Wake, như báo chí Mỹ đã tường thuật, và nhất là với lời ca ngợi của Tổng Thống Huê Kỳ được trích đăng nguyên văn, Tổng Thống Nguyên chuẩn bị trở về Việt Nam với một tinh thần sảng khoái. Ông có cảm tưởng rằng con người xác thịt của ông quá bé nhỏ, không xứng đáng với vai tuồng của nhân vật mà ông đang đóng. Trước khi rời đảo Wake, mượn hệ thống liên lạc của "Bạch Cung di chuyển", Tổng Thống Nguyên chỉ thị cho Thủ Tướng Trần Huyền Thanh tổ chức lễ tiếp đón ông và phái đoàn thật tưng bừng, đủ lễ nghi trọng thể và điều động quần chúng tối đa.

 

Ðược lệnh như thêm quyền, Thủ Tướng Thanh tự thấy mình có đầy đủ ấn kiếm để rộng tay hành động. Hiến pháp quy định khi Tổng Thống vắng mặt thì phó Tổng Thống tạm thời thay thế. Nhưng, trước khi lên đường đi phó hội thượng đỉnh, Tổng Thống Nguyên lại ký sắc lệnh ủy nhiệm cho Thủ Tướng Trần Huyền Thanh xử lý thường vụ mọi vấn đề của quốc gia.

 

Ngoài ra, Tổng Thống còn họp những người thân tín và có tác động đến an ninh quốc gia như tư lệnh quân đoàn thủ đô, tư lệnh cảnh sát quốc gia, đặc ủy trưởng trung ương tình báo để ban hành khẩu lệnh mật và đặc biệt. Tổng thống đã quyết định đặt những lực lượng này thuộc quyền điều động của Thủ Tướng, phòng hờ trường hợp có âm mưu đảo chánh hay phản động. Tổng thống không minh thị nói ra đối tượng nhưng những nhân vật trong phiên họp cũng hiểu được con người khả dĩ làm chuyện cấm kỵ đó là ai.

 

Khi nhận được công điện thì Thủ Tướng Thanh chỉ còn có mười hai tiếng đồng hồ để thi hành, trong đó lại có ngày chủ nhật. Phi cơ của Tổng Thống sẽ đến phi trường Tân Sơn Nhứt đúng 13 giờ ngày thứ hai. Ðùng một cái, sáng sớm ngày thứ hai tòa Đại Sứ Huê Kỳ lại cho ông Thủ Tướng biết rằng cùng về Việt Nam với Tổng Thống Nguyên còn có Phó Tổng Thống Huê Kỳ. Dữ kiện để tổ chức lễ đón rước mà thay đổi vào phút chót là cả một rừng khó khăn. Trong khi đó khoảng thời gian còn lại không đầy sáu tiếng đồng hồ.

 

Thời gian càng thu ngắn thì chi phí tổ chức lại tăng lên vì thực hiện cấp tốc thì giá cả phải cao. Tiền in cờ giấy, tiền thực hiện băng khẩu hiệu, bích chương, biểu ngữ, tiền phụ cấp các đoàn thể,... Ngày thứ hai đó, toàn thể các cơ sở chánh phủ và quân đội đều được nghỉ việc, trường nghỉ học để cho công chức, binh sĩ và sanh viên, học sanh dự lễ rước Tổng Thống phó hội thượng đỉnh về.

 

Từ tờ mờ sáng, toàn khu vực sân bay Tân Sơn Nhứt đã bị quân đội phong tỏa. Các ngõ vào phi trường đều có nút chận quân sự, với chiến xa tăng cường. Mọi chuyến bay dân sự khởi hành từ Tân Sơn Nhứt hay đến nơi này đều bị cấm chỉ. Thậm chí các chuyến bay quốc tế băng qua vùng trời Sài Gòn trong khoảng thời gian từ 8 giờ sáng đến 15 giờ cũng phải chuyển hướng qua Nha Trang. Một phi cơ quan sát và một phi tuần máy bay chiến đấu thường trực tuần phòng trên vùng trời Sài Gòn suốt thời gian nói trên.

 

Mặt trời chưa lên mà người ta đã thấy các đoàn xe chở quân nhân và dân chúng đổ xuống khu vực tiếp đón yếu nhân của phi cảng. Nhiều xe chuyên chở công cộng được trưng dụng để đưa công chức, thầy thợ và sanh viên học sanh đổ dọc theo đường Công Lý nối liền phi cảng với Dinh Ðộc Lập. Ðoạn đường này hôm nay được trang trí rực rỡ, nào bích chương, nào băng khẩu hiệu, nào biểu ngữ, nào cờ Việt, cờ Mỹ, nào y phục đủ màu của những người đi đón.

 

Gần đúng ngọ mà những công nhân treo cờ ở các thân cây, ở những cột đèn còn hì hà, hì hục treo cờ Mỹ, dán bích chương và căng băng khẩu hiệu, biểu ngữ liên quan đến Phó Tổng Thống Huê Kỳ vì được lệnh vào phút chót. Một chiếc xe lăng xăng chạy tới, chạy lui phân phối gấp cho các đoàn thể những cây cờ Mỹ bằng giấy nhỏ cầm tay. Như vậy là mỗi cá nhân đi rước phải đưa cao hai tay phất ba cờ giấy một lúc, hai quốc kỳ Việt, Mỹ và hiệu kỳ Tổng Thống, khi đoàn xe Tổng Thống đi qua.

 

Hàng ngũ và đội hình chào mừng Tổng Thống được kể như ổn định vào lúc mười giờ sáng. Bên trong phi cảng, trước phòng khánh tiết là đội quân chào kính hải, lục, không quân, trong những bộ quân phục màu mè đẹp mắt, tay cầm vũ khí bóng loáng. Ðặc biệt lần tiếp rước này còn có sự hiện diện của tiểu đoàn cảnh sát chiến đấu và lính cứu hỏa với những chiếc mũ đồng sáng choang.

 

Một tấm thảm nhung đỏ chạy dài thẳng tắp từ thềm sảnh danh dự của phòng khánh tiết đến chỗ được dự trù cho chân cầu thang máy bay. Dọc theo hai bên tấm thảm đỏ là hai hàng quân danh dự của lữ đoàn phòng vệ phủ Tổng Thống, quân phục đặc biệt bằng vải không nhàu, khăng che cổ bằng lụa đỏ cùng với găng tay, nịch da và ghệt trắng. Bên ngoài, dài theo con đường từ bãi xe phi cảng chạy ra Công Lý đến tận cổng tam quan Dinh Ðộc Lập là rừng người đứng hai bên lề đường, ban đầu mặt mày hớn hở nhưng lần hồi tiu nghỉu cùng với độ gay gắt của nắng về trưa.

 

Khi mới đến hàng ngũ chỉnh tề, tổ nào theo tổ nấy nhưng càng về trưa thì không cần lệnh lạc mà thiên hạ đều tập họp dưới những bóng mát tàn cây, mặc tình cho các tổ trưởng la hét. Ðối diện với quần chúng là những ông cảnh sát sắc phục, dùi cui lủng lẳng bên đùi, tu huýt treo ở cổ, đứng dưới lòng đường cứ trăm thước một ông. Thật là vĩ đại, không phải vĩ đại ở người được đón rước mà ở chỗ sức người được điều động ra đó! Chỉ vì lòng kiêu hãnh của một người mà khổ bao nhiêu người!

 

May mắn thay, phi cơ Tổng Thống đến rất đúng giờ. Trong cái nóng giữa trưa của Sài Gòn, những nhân vật quan trọng ra đón tự cho là may mắn vì không phải mất công chờ đợi nên có lời ca ngợi phi hành đoàn Việt Nam tính toán giỏi và bay thật đúng giờ như xe lửa SNCF của Pháp. Ông chủ tịch tổng giám đốc Hàng Không Việt Nam, nghe được mà mát cả lòng như chừng có một máy điều hòa không khí bên trong.

 

Xa xa ngoài phi đạo, chiếc phi cơ từ từ lăn bánh đi vào thật trịnh trọng. Sức nóng của mặt nhựa đường băng làm cho lớp không khí tiếp giáp mặt đất như biến thành thể lỏng nên nhìn từ xa người ta có ảo tưởng là phi cơ đang lướt gió, càn mây. Khá lâu sau, phi cơ mới vào gần thì ơ kìa sao lại không phải chiếc phản lực Caravelle mà Tổng Thống đã sử dụng khi đi? Nhìn lên khung cửa kính hai bên phòng lái, người ta thấy rõ hai cây cờ nhỏ tung bay phấp phới, quốc kỳ Việt Nam và Huê Kỳ. Nhìn kỹ hơn nữa, người ta thấy rõ là chiếc Boeing 747 của Không Lực Huê Kỳ.

 

Thôi thì năm nghi, mười ngờ người đoán thế này, kẻ suy thế khác. Rồi phi cơ dừng hẳn và tắt máy. Một lúc lâu sau, cánh cửa phi cơ mới mở toang và Tổng Thống Nguyên bước ra cùng với Phó Tổng Thống Huê Kỳ. Hai ông dừng lại trên đầu cầu thang, tay trái Tổng Thống Nguyên nắm tay mặt Phó Tổng Thống Huê Kỳ và hai tay còn trống của hai người cùng đưa lên cao thành chữ V, tượng trưng cho chiến thắng. Hai người cùng bước xuống cầu thang mà ở dưới chân có Thủ Tướng đang đứng chờ. To nhỏ năm điều, mười chuyện xong, Thủ Tướng hướng dẫn Tổng Thống Nguyên và Phó Tổng Thống Huê Kỳ đến chào quốc kỳ Việt Mỹ và sau cùng là bắt tay những yếu nhân ra đón.

 

Qua thông cáo báo chí phổ biến tại phòng khánh tiết, người ta được biết rằng thượng đỉnh đã đem lại kết quả tích cực như hai bên mong muốn. Ðiều đáng quan tâm hơn hết là Huê Kỳ quyết tâm cam kết sẽ hậu thuẫn mạnh mẽ Việt Nam Cộng Hòa trong mọi tình huống, dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Tổng Thống Nguyên. Bằng chứng hùng hồn, nói lên mối hữu nghị ngày càng thắm thiết giữa Việt và Mỹ như thế, được thể hiện qua sự hiện diện của Phó Tổng Thống Huê Kỳ, được phái sang tận Việt Nam để cụ thể nói lên mức độ hữu nghị giữa hai chánh phủ. Do đó, phó Tổng Thống Huê Kỳ cùng đi với Tổng Thống Nguyên trên chiếc phi cơ "Air Force One" trừ bị, mà Tổng Thống Huê Kỳ cho đặt dưới quyền sử dụng của Tổng Thống Nguyên.

 

Sau đó, Tổng Thống Nguyên và phái đoàn lên những chiếc xe bóng lộn đang chờ sẵn để về hướng Dinh Ðộc Lập. Ðoàn xe vừa chuyển bánh thì một cơn mưa nặng hột đổ ụp xuống vùng Tân Sơn Nhứt rồi chạy dài đến Sài Gòn, cùng với cơn giông cấp bảy cấp tám. Lá cây lìa cành thi nhau rượt đuổi trên đường phố, một vài cành cây bị gió đánh gãy răng rắc, dây điện chạm nhau tung ra những ánh lửa xanh như tia chớp.

 

Thế là đoàn xe mở máy chạy nhanh, hàng rào người chào mừng tan rã, như đê bị vỡ, như đàn ong bị phá ổ, đua nhau chạy tìm chỗ núp mưa. Bích chương, băng khẩu hiệu, biểu ngữ và cờ giấy cầm tay bị gió cuốn bay đi nằm bẹp dưới đường trông thật thảm thương. Bao nhiêu tiền của bỏ ra mà chẳng dùng được vào chuyện mong muốn.

 

Từ trong xe, Tổng Thống nhìn thấy mà bực tức cho công trình nhằm làm nổi bật thanh thế của mình bị hư hỏng một cách đáng tiếc. Tiếc vì ý định không thành chứ không phải vì hao tiền tốn của cho công quỹ. Thế là đoàn công xa ầm ì chạy qua dưới những cặp mắt ngẩn ngơ nhìn cơn mưa gió mà lo ngại cho thân mình. Ðoàn xe qua rồi mà hàng hàng lớp lớp những người đi đón vẫn chưa ra về được, không phải vì luyến lưu vị Tổng Thống kính yêu mà vì bị gió mưa giam hãm.

 

Trong khi đó, phần còn lại của thủ đô Sài Gòn đang vui mừng hớn hở với cơn mưa rất được mong chờ sau bao nhiêu ngày nắng hạn. Nếu tin dị đoan chắc là Tổng Thống phải cho là điềm trời. Nhưng, thường thì người ta chỉ tin nếu là điềm tốt. Mà xấu sao được vì hôm sau các báo Sài Gòn đã đăng những bức ảnh đẹp của Tổng Thống Nguyên ở thượng đỉnh. Làm đẹp lòng Tổng Thống Nguyên nhiều nhất là các tấm ảnh trước và sau phiên "mật đàm cà phê". Ảnh trước khi vào mật đàm chụp hai Tổng Thống Việt và Mỹ ngồi châu đầu nhau qua chiếc bàn xa lông như tâm sự rất thân mật. Ảnh sau mật đàm là ảnh đã được báo chí Huê Kỳ đăng ngay hôm sau ở Wake, cho thấy hai nhà lãnh đạo thân thiết choàng vai nhau bước ra khỏi phòng họp.

 

Lối tiếp đón rầm rộ, vĩ đại chưa từng thấy, dù là dưới chế độ độc tài gia đình trị của Tổng Thống Diệm, bị đông đảo dư luận cho là phí phạm công nho, xài phá tiền bạc của người chịu thuế một cách vô lối. Do đó, chế độ bị phê phán và chỉ trích thậm tệ. Bắt đà, các tờ báo và dân biểu đối lập lên tiếng phản đối hành động thiếu suy xét của chánh phủ, với con số người đi đón bị ốm vì trúng nắng, bị mưa làm tài liệu chứng minh.

 

Ðiểm làm dư luận xúc động nhiều nhất là số đông các trẻ em ít tuổi ở cấp tiểu học mà cũng là nạn nhơn của "lễ diễu võ dương oai" của Tổng Thống! Thủ tướng Thanh thấy lo ngại vì ông nghĩ rằng đó là lỗi ở ông, tổ chức mà không nhìn xa, không thấy trước những lợi hại của một việc làm. Tuy nhiên, là một người làm chánh trị khéo khôn ông lại tự biện minh là tại cấp thừa hành quá mạnh tay để thấy có một phần nào yên tâm, nếu Tổng Thống trách cứ.

 

Thế nhưng, Thủ Tướng đâu cần phải thắc mắc cho điểm lương tâm của ông khi được biết Tổng Thống đã chỉ thị thẳng bộ thông tin ra lệnh tịch thu ngay những tờ báo khó thương đó. Ðiều khoản tự do ngôn luận của hiến pháp cũng như luật báo chí không cho hành pháp hành động như thế, nhưng quy chế điều hành về các phương tiện truyền thông đã có những kẽ hở cho nên nhà nước cứ khai thác. Luật pháp và quy chế thường được khai thác theo chiều hướng có lợi cho người áp dụng.

 

Từ khi chấp chính đến nay, việc tịch thu báo là hành động mạnh tay đầu tiên của Tổng Thống Nguyên, con người của một chánh đảng trước kia thường tranh đấu cho "đệ tứ quyền" để cho báo chí được tự do. Hành động này cho phép người ta hiểu rằng, với kết quả tích cực của thượng đỉnh và với cái "chi phiếu chánh trị chưa điền số tiền" của Tổng Thống Huê Kỳ trao cho ông ở đảo Wake, Tổng Thống Nguyên tự cho mình có toàn quyền hành động trong tinh thần của cái gọi là "chánh trị trung dung" của ông.

 

Những ai nhạy cảm chánh trị đều cho rằng chỉ sau thượng đỉnh có mấy ngày mà Tổng Thống đã chuyển hướng đường lối cai trị, bắt đầu ló mòi độc tài. Hội đồng quốc gia báo chí lên tiếng phản đối gay gắt. Dân biểu chủ tịch ủy ban thông tin và chiêu vận của quốc hội cũng đăng đàn phê bình mạnh mẽ hành pháp, đặc biệt là Tổng Thống vì ông được biết rằng hành động vi hiến đó xuất phát từ khẩu lệnh của Tổng Thống. Ông nói thẳng ra rằng "Tổng Thống Nguyên đã để lộ chân tướng chuyên quyền sau khi Tổng Thống nhận lãnh ấn kiếm từ tay 'Hoàng Đế Huê Kỳ' của ông ở thượng đỉnh Wake". Lời phê bình nặng tính mỉa mai châm biếm đó của ông dân biểu tạo nên một sự thích thú cho hội trường, dẫu cho bầu không khí đang trang nghiêm, vì một biến cố kiểu thọc gậy vào bánh của chiếc xe tự do dân chủ. Tiếng vỗ tay và lời hoan hô vang vậy hội trường, ông chủ tịch quốc hội Phạm Hoàng Chỉnh giật mình như vừa tỉnh cơn ngủ gật vội vàng chụp lấy chiếc búa cây gõ gấp ba tiếng và tuyên bố phiên họp bế mạc.

 

Dân biểu phản đối ông chủ tịch về hành động cắt ngang phiên họp vì chưa đi đến phần nghị quyết liên hệ đến văn thư khuyến cáo hành pháp. Ðoàn người từ quốc hội vừa đổ ra đường thì bên kia đường Tự Do, đối diện với quốc hội và trước trung tâm báo chí đã có một cuộc biểu tình bỏ túi của nghiệp đoàn báo chí và ấn phẩm miền Nam.

 

Ký giả và phóng viên các báo thủ đô, lợi dụng phiên thuyết trình tình hình hàng ngày của trung tâm để phát động một cuộc biểu tình chống lại lệnh tịch thu báo của chánh phủ. Biểu ngữ bằng vải trắng chữ đỏ được căng lên và truyền đơn bươm bướm được tung ra trắng cả công viên cạnh đó. Quần chúng hiếu kỳ càng lúc càng tụ tập đông thêm làm cho nhân số biểu tình như được gia tăng. Phóng viên các đài truyền hình ngoại quốc được dịp tốt thu những đoạn phim độc đáo về sinh hoạt dân chủ của đồng nghiệp Việt Nam của họ.

 

Nhiều xe sơn màu xanh lá cây và màu trắng của cảnh sát chở đầy nhân viên công lực, mở hết tốc độ, còi hụ inh ỏi, ánh đèn chớp màu đỏ quay tròn trên mui, từ nhiều phía đổ xô về địa điểm tụ tập. Không bao lâu, cả khu quốc hội được vòng đai cảnh sát chiến đấu và kẽm gai khóa kín. Người hiếu kỳ được loa cảnh sát yêu cầu rời địa điểm và người biểu tình được yêu cầu phản đối trong thầm lặng và trật tự để trả sự ổn định và yên ổn lại cho sinh hoạt của trung tâm thành phố.

 

Tuy nhiên, phong trào chống đối của báo chí không vì thế mà nằm im vì phản đối càng lên thì đàn áp càng mạnh và càng đàn áp thì chống đối càng tăng. Báo ngày, rồi báo tuần cũng bị tịch thu càng lúc càng nhiều hơn vì dư luận chống đối chánh phủ không hạ cơn sốt. Không những bị tịch thu không thôi mà còn có một số chủ nhiệm, chủ bút hay giám đốc biên tập bị truy tố ra tòa. Cứ như vậy mà thế hung hăng của hành pháp ngày một leo thang, như hòn đá tảng từ dốc cao lăn xuống chân núi tốc độ càng lúc càng nhanh!

 

Ðến ngày thứ ba thứ tư gì đó thì thái độ bình tỉnh và kiên nhẫn của hành pháp không còn nữa. Những miếng võ dùi cui của cảnh sát "bạn dân" bắt đầu xuất hiện và hậu quả là những nạn nhơn u đầu sứt trán càng ngày càng đông. Bệnh viện Sài Gòn gần đó trên đại lộ Lê Lợi càng phải nhận thêm nhiều nạn nhơn trong trường hợp cứu cấp. Dùi cui rồi võ cận chiến cũng bất lực trước lòng căm phẫn của quần chúng, chánh quyền đành cầu cứu đến biện pháp mạnh.

 

Lựu đạn cay thi nhau bay vào đám đông biểu tình. Mắt cay thì lệ rơi nhưng đã có chanh và khăn ướt. Thế là hết cay, người ta kéo nhau trở lại và áp dụng chiến thuật biểu tình nghi binh, một mặt rút chạy, mặt khác tiến vào. Một đoàn cảnh sát mà phải đánh mấy mặt trận một lúc thì cũng phải mỏi mệt. Nhưng, khói lựu đạn cay thay vì dẹp đám người biểu tình thì lại làm tăng thêm nỗi bực tức của một vài nhóm quần chúng khác. Theo diễn tiến của phản ứng dây chuyền, chánh quyền ngày một thẳng tay hơn trong đàn áp thì quần chúng đối kháng cũng lan rộng ra nhiều thành phần khác.

 

Chống chánh quyền là một bệnh truyền nhiễm vì mấy khi người dân thấp cổ bé miệng có dịp nặng lời với nhân viên công lực, người đại diện hung ác của nhà nước, nên khi một nhóm người đã làm được thì tại sao nhóm người khác lại không làm? Và càng chống đối, chánh quyền càng chống trả đàn áp thì càng để hở chỗ yếu của mình cho hàng ngũ đối kháng có dịp tấn công.

 

Ngoài đường phố người lớn biểu tình thì trong chu vi nhà trường sanh viên học sanh bắt đầu hội thảo. Nhận định rằng chánh quyền càng ngày càng hung hăng, bất chấp nguyên tắc dân chủ trong chiều hướng giải quyết những khó khăn của quốc gia, sanh viên và học sanh Sài Gòn bắt đầu nhảy vào vòng chiến để tăng cường hàng ngũ của những ký giả chân yếu tay mềm.

 

Tuổi trẻ bao giờ cũng năng động nên lối biểu tình của sanh viên học sanh được tiến hành mạnh bạo hơn. Ngoài việc bênh vực cho đệ tứ quyền, những người trẻ bất mãn kia đưa thêm vào mục tiêu tranh đấu một điểm mới của chính họ. Họ kêu gọi chánh quyền hãy để cho tuổi trẻ yên tâm với học đường, đừng để thanh thiếu niên phải mang lấy mặc cảm quân trường, một khi chiến tranh đã lắng đọng.

 

Ðám lửa đối kháng về tự do báo chí chưa được dập tắt thì trái nổ chống đối khác lại bùng lên. Sanh viên học sanh tổ chức những cuộc biểu tình lưu động bằng xe đạp và xe gắn máy mà dân Sài Gòn mới thấy lần đầu tiên qua những năm xáo trộn và chánh biến. Ban đầu chỉ là những cô cậu lượn phố bằng xe gắn máy rất học trò và rất dễ thương. Tới một giao điểm hẹn trước, có tác dụng đánh mạnh vào tâm lý quần chúng, thì lập tức hai xe đi đầu nhập lại rồi tách ra thì một biểu ngữ đã được căng ngang và di chuyển trên đại lộ. Theo sau là một dọc dài hàng đôi những xe gắn máy đủ kiểu. Những xe cuối cùng thì tung truyền đơn chống chánh phủ và giải thích cùng đồng bào, còn những xe đi giữa thì la to những khẩu hiệu tranh đấu.

 

Cuộc biểu tình "cơ giới hóa" như vậy đi qua được nhiều đường phố đông người qua lại trong đô thành với một tốc độ nhanh trước khi cảnh sát kịp thời can thiệp để giải tán bằng lựu đạn cay. Nhưng cảnh sát khó bắt được ai vì khi có báo động thì đoàn xe rả đám ngay và phân tán chui vào các đường con ngõ hẻm. Thành ra, khói lựu đạn cay không mấy tác dụng với người biểu tình vì họ đã biến vào các xóm, chỉ tội cho những người làm ăn tại chỗ hay khách qua đường lỡ bước đi ngang phải lãnh hết khói cay.

 

Chẳng khác nào cuộc chiến tranh không ranh giới và mờ mịt bạn thù ở Việt Nam Cộng Hòa từ bao lâu nay, người đi tảo thanh càng hành động mạnh thì lại tạo thêm căm hờn trong giới quần chúng vô can. Lựu đạn cay kia không dẹp được nhóm sanh viên học sanh biểu tình bao nhiêu nhưng lại gây thêm nhiều bất mãn trong lòng dân chúng. Phong trào chống đối của sanh viên học sanh càng bị đàn áp tàn bạo càng tạo thêm dư âm. Nhiều hội đoàn học sanh sanh viên trên toàn quốc cũng như một vài tổng hội sanh viên nước khác đã đánh điện hỗ trợ. Phấn khởi với những trường hợp ủng hộ tinh thần như vậy, sanh viên học sanh càng đẩy mạnh thêm hình thức chống đối. Họ tổ chức những toán người "Nói cho đồng bào tôi nghe" để mở chiến dịch rỉ tai trong diện quần chúng có khả năng xung vào hàng ngũ tranh đấu cùng với họ.

 

Xuống đường biểu tình chống đối chánh quyền ở Sài Gòn gần như vết dầu loang, ngày một thêm rộng ra về diện tích cũng như về thành phần xã hội. Thiếu khả năng, mà cũng thiếu luôn chánh nghĩa để chận đứng làn sóng phản đối, chánh quyền kể như bị bó tay. Thừa thắng xông lên, các nghiệp đoàn cũng nhảy vào chiến tuyến đối kháng với chánh phủ vì họ nghĩ rằng nếu thắng đợt này thì sau đó nhà nước chẳng tha ai.

 

Chống chánh quyền gần như là thuốc phiện của người dân trong chế độ dân chủ. Sống trong một môi trường mà người cai trị được coi như một thiểu số hưởng ân huệ do lá phiếu nhơn dân ban cho thì chánh quyền không bao giờ được tha thứ nếu bị coi là không lưu tâm đến nhu cầu dân chủ của quần chúng. Một khi chánh phủ đã lỡ đánh mất niềm tin nơi dân chúng thì có giải thích bao nhiêu cũng không ai nghe.

 

Người ta không buồn nghe chánh phủ nói nữa mà chỉ nhìn vào biến cố thực sự xảy ra để đánh giá hành động và tư cách của chế độ. Từ đó, nhơn dân sẽ quyết định thái độ của mình đối với chánh quyền. Nghiệp đoàn tăng cường chiến tuyến chống đối không phải để đáp ứng lại tiếng gọi của những người sanh viên học sanh đáng tuổi em cháu họ, mà vì họ ý thức được trách nhiệm của họ trong hành trình tìm lấy tương lai bản thân.

 

Sức bành trướng của phong trào chống đối chánh phủ biến thành chống đối chế độ Nguyễn Vĩnh Nguyên ngày một mạnh mẽ và đa dạng làm cho Hoa Thịnh Ðốn cảm thấy lo âu. Lợi dụng một cuộc họp báo bất thần với một số ký giả đặc phái tại Bạch Cung, Tổng Thống Huê Kỳ tuyên bố:

 

"Tôi xác nhận một lần nữa những nhận xét của tôi tại thượng đỉnh Wake về khả năng lãnh đạo của Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa Nguyễn Vĩnh Nguyên. Tôi tin rằng trong thời gian rất gần đây, Tổng Thống Nguyên sẽ khắc phục được những bất ổn xã hội ở thủ đô Sài Gòn. Tình hình xáo trộn đó chỉ có lợi cho cộng sản. Hiệp Chúng Quốc Huê Kỳ lúc nào cũng coi Tổng Thống dân cử Nguyễn Vĩnh Nguyên là nhà lãnh đạo hợp pháp của Việt Nam Cộng Hòa."

 

Lời tuyên bố của Tổng Thống Huê Kỳ được Tổng Thống Nguyên diễn dịch và coi đó như là một sự ủng hộ chí tình. Tổng thống chỉ thị cho cảnh sát thẳng tay hành động với những người chống đối để bảo vệ trật tự và an ninh cho đồng bào. Nhân dịp chủ tọa lễ mãn khóa sĩ quan cảnh sát tại Học Viện Cảnh Sát Thủ Ðức, Tổng Thống Nguyên đọc một bài diễn văn trong đó có đoạn sau đây rất được quan tâm:

 

"... Tôi quan niệm cảnh sát là cánh tay cương quyết của luật pháp quốc gia, cánh tay của người trưởng tộc trong gia đình. Cánh tay đó vừa thương yêu đùm bọc mà cũng vừa mạnh dạn trừng phạt để hướng dẫn người con trong gia đình đi đến chỗ thành nhơn. Trước những bất ổn xã hội hiện nay, cảnh sát phải luôn luôn giữ được vai trò trừng trị mà giáo huấn đó và một tư cách thật sự bạn dân. Một người bạn tốt không phải là một người bạn cám dỗ, khuyến dụ mà phải là một người bạn biết đưa thân hữu mình vào đường ngay nẻo chính bằng phê bình chỉ trích, dù phải bị bắt buộc làm những điều đó một cách nặng tay và sỗ sàng."

 

Lời tuyên bố của Tổng Thống Huê Kỳ cộng với lời đe dọa ngụy trang trong bài hiểu thị sĩ quan cảnh sát của Tổng Thống Nguyên làm cho bầu không khí chống đối như lửa bắt gặp chất nhiên liệu mới. Mục tiêu đối kháng càng ngày càng gia tăng như một khối tuyết lăn lóc từ đỉnh núi cao xuống thung lũng, càng lăn càng to lên với lượng tuyết bám vào.

 

Từ thế chống đối của những nhà báo, thời sự đã bước sang thế chống đối của những người trẻ tuổi ngại quân trường, rồi thế chống đối của người Việt Nam nói chung chống Mỹ. Ở mục tiêu này, quần chúng đối kháng bắt đầu có một mẫu số chung, một đối tượng của toàn thể, nên cao trào chống đối kể như lên tột đỉnh. Chính phủ ban hành lệnh giới nghiêm, từ 20 giờ đến 5 giờ sáng hôm sau, ở thủ đô Sài Gòn. Những thành phố lớn của Việt Nam Cộng Hòa không cần quan tâm đến sinh hoạt hàng ngày để sống, để tồn tại mà lăn xả vào những biến động phản kháng, một thế phản kháng cần thiết để hiện hữu.

 

Quân nhân và kiều dân Mỹ được đặt trong tình trạng báo động và được tòa Đại Sứ khuyến cáo là nên hạn chế di chuyển ngoài đường phố. Nếu phải di chuyển thì nên đi từng nhóm tối thiểu hai người và phải được vũ trang. Bầu không khí các thị trấn bắt đầu khó thở và cảnh tượng phố phường trở nên hoang vắng như những ngày Tết Mậu-Thân!

 

Sau một tháng đàn áp chống đối và dẹp biểu tình, cảnh sát sắc phục lẫn cảnh sát dã chiến thấy rã rời hàng ngũ cũng như tinh thần. Ngày một, ngày hai hành động của họ chẳng còn hiệu quả gì nữa mà xem lại thì như một trò chơi rượt bắt của trẻ con. Người chống đối xuống đường hay phản kháng thì có lý do, có mục đích trong khi kẻ rượt đuổi thậm chí bắt bớ là để ăn lương, núp sau tấm bình phong mỹ miều gọi là vì nước vì dân chứ chẳng phải vì một ý niệm nào rõ rệt.

 

Trong lúc đó người dân bàng quan vô tích sự chỉ lo làm ăn cũng không yên thân cho nên số lượng người bất bình với chế độ cứ tăng lên. Thậm chí người ta còn so sánh là "chế độ dân cử, Tổng Thống dân sự gì mà bết hơn mấy ông nhà binh ngày trước?!" Tổng thống Nguyên bèn nghĩ đến khí giới cuối cùng của chế độ là quân đội.

 

Sau khi hội ý với đại tướng tổng tham mưu trưởng và được đặc ủy trưởng trung ương tình báo trình là rất có thể cộng sản đã xâm nhập vào các hệ thống của phong trào chống đối, Tổng Thống Nguyên quyết định công bố tình trạng thiết quân luật trên toàn quốc và cai trị bằng sắc lệnh. Những người chiến sĩ của tiền tuyến ngày nào giờ đây phải trở lại hậu phương, không phải với hai mươi bốn hay bốn mươi tám giờ phép mà là để tiếp tay với cảnh sát dẹp loạn dân sự.

 

Những tay súng đầy quả cảm trên chiến trường hay nhiều gian khổ trong rừng sâu dù được về thành phố nhưng lòng họ kông thấy vui mừng hớn hở như thời gian đi phép. Trên chiến tuyến mới này, đối tượng của họ không còn như trước vì không hẳn là kẻ thù mà có thể là con em, là bằng hữu, thậm chí là người yêu của họ. Súng họ vẫn cầm tay nhưng chỉ là những vũ khí không hồn vì không được nạp đạn mà gắn lưỡi lê với tiêu lệnh là chỉ được sử dụng trong trường hợp tự vệ và bất khả kháng.

 

Nhưng, liệu người chiến sĩ có đủ can đảm dùng lưỡi lê kia hay không vì lương tâm của họ không cho phép coi đối tượng ở đây như là một kẻ thù tự nhiên, cần phải triệt tiêu ưu tiên, trước khi nó hạ mình. Trên chiến trường ngoài kia, quy luật chiến tranh đã khá phức tạp cho họ rồi vì phải chiến đấu sống mái với đồng loại trước mặt. Màu da và tiếng nói như nhau và khác biệt chăng, chỉ là khác biệt trong tâm tư tình cảm qua ý thức hệ, lý tưởng và lập trường chánh trị. Ngoài kia, nếu người lính chiến không phải đắn đo khi bóp cò súng hạ đối tượng vì nếu không thì anh cũng sẽ bị bắn ngã. Ở đây, trái lại là đối tượng cùng lý tưởng, chung lập trường nhưng chỉ có cung cách bảo vệ là khác nhau mà thôi.

 

Hơn nữa, đối tượng của anh lính chiến giữa lòng đô thị hôm nay đâu phải là một đối tượng quyết tâm triệt tiêu anh bằng bất cứ giá nào. Thế là người chiến sĩ từng có một thời tung hoành ngoài hỏa tuyến không chút mặc cảm, giờ đây ngồi ở gốc cây, nơi trụ đèn hay nằm dưới mái hiên phố thị bỗng dưng ý thức về sứ mạng mới của mình một cách chua cay và ngao ngán. Càng não nề và nản lòng cho anh hơn nữa khi khói lựu đạn cay của cảnh sát đôi khi lại quấy rầy những người chiến sĩ không có mặt nạ chống hơi.

 

Nỗi bất mãn của thành phố ngày càng gia tăng lại được một vài yếu nhân lập pháp lẫn hành pháp hỗ trợ. Thái độ phê bình và phản đối tình hình chánh trị và xã hội làm cho uy tín của Tổng Thống Nguyên bị tổn thương nhiều nhất xuất phát từ Quốc Tiến và nhất là những lời tuyên bố của Phó Tổng Thống Trần Việt. Từ lâu nay, cái thế chánh trị đồng sàn dị mộng của hai ông chánh và phó chỉ có môi trường chánh trị hạn hẹp nhận thấy mà thôi.

 

Ngày nay, với khuynh hướng "Dân Chủ Trung Dung" của Tổng Thống Nguyên, ông phó của Tổng Thống không chấp nhận và cũng không thể bất đồng ý kiến một cách thầm lặng được nữa. Dù sao, đã đến nước này thì Phó Tổng Thống Trần Việt cũng phải nghĩ đến sự tồn tại của chế độ, uy tín của Quốc Tiến và thế chánh trị tương lai của chính ông. Phó Tổng Thống Trần Việt cho rằng:

   - Lãnh đạo không thể còn dân chủ khi đã xa rời nhơn dân và coi nhơn dân như một đối tượng cần được vô hiệu hóa để bảo vệ mưu đồ chánh trị đen tối của một cá nhơn. Một nền dân chủ chỉ có thể tồn tại và đứng vững nếu là một nền dân chủ của dân và cho dân. Nếu dân chủ chỉ là dân chủ riêng cho tầng lớp lãnh đạo thì dân chủ kia đã mất môi trường để chỉ còn là độc tài mà thôi.

 

Lập trường công khai của Phó Tổng Thống Trần Việt như một thùng xăng tạt vào ngọn lửa tranh đấu của quần chúng. Ngọn lửa mới và được thêm chất đốt này bùng lên thật mạnh và toàn thể nổ lực đối kháng của Sài Gòn đã dồn vào một cuộc biểu tình to lớn trước tòa Đại Sứ Mỹ nằm trên đại lộ Thống Nhứt, lưng chừng giữa Dinh Ðộc Lập và Dinh số bảy Thống Nhứt.

 

Ban đầu là mít tin, biểu tình ngồi, hô hào phản đối lời tuyên bố bênh vực Tổng Thống Nguyên của Tổng Thống Huê Kỳ và phê phán nhịp độ giải kết chiến tranh Việt Nam của Mỹ. Lần hồi cơn giận lên cao, người biểu tình bắt đầu ném trứng thối, cà chua để đi lần đến ném đá. Hàng rào quân nhơn tăng cường bị chọc thủng, hàng rào cảnh sát cũng chào thua trước làn sóng người biểu tình nổi giận chạy ùa vào tận tường thành và cổng sắt.

 

Một vài thanh niên lực lưỡng định phá cổng sứ quán làm cho toán thủy quân lục chiến Mỹ phụ trách an ninh sứ quán hốt hoảng nổ súng đe dọa, nhưng chẳng may viên đạn vô tình đã làm một nữ sinh bị trọng thương ở bụng. Người ta đưa gấp người nữ sinh nạn nhơn vào bệnh viện thành phố, nhưng máu của cô gái ngã quỵ kia đã trở thành một kích thích tố khá mạnh cho đoàn người chống đối. Tâm lý đám đông lúc nào cũng dành nhiều cảm tình cho kẻ yếu đuối nhưng, người yếu đuối ở đây lại thuộc phận nữ nhi liễu yếu đào thơ.

 

Quần chúng biểu tình càng căm tức hơn nữa khi họ nghĩ rằng cô nữ sinh trẻ đẹp kia phải là một thần tượng để tôn thờ trong tình yêu sao lại phải ngã xuống giữa lòng thành phố trong một môi trường hỗn loạn. Thế là hỗn loạn lại lên cao, cảnh sát và quân đội được tăng cường. Khói lựu đạn cay mịt mù, vòi nước dẹp biểu tình của cảnh sát được xe vòi rồng của cứu hỏa thành phố tiếp tay nhảy vào vòng chiến thật tàn bạo và chiến xa cũng hăm hở tiến vào. Một vài tiếng súng đe dọa nổ lên đâu đó và người thính tai nghe được tiếng đạn bay trên đầu đoàn biểu tình. Chế độ đã quyết tâm làm mạnh. Cả khu sứ quán dày đặt khói cay và bụi nước, che mờ tòa nhà đồ sộ cho người đứng đàng xa có một ảo ảnh như tòa Đại Sứ đang ở sau màn sương mù.

 

Sự xuất hiện của những phương tiện nặng mà chánh quyền đưa ra, như là một nước cờ cuối cùng, may mắn thay giải tán được đám đông mỏi mệt vì thời gian hành động và lả người vì khói cay và sức đẩy của các vòi nước. Những người phản kháng, một số thì tản mác đi các phố nhỏ hay đường hẻm quanh khu xáo trộn, một số thì bị bắt lên xe đưa đi, một số thì nằm lại khu vực đấu tranh. Khi khói mờ bay đi và bụi nước lắng xuống, cảnh khu vực đấu tranh sau giờ hành động trông thật là bi đát!

 

Những người con gái, những đứa con trai bất tỉnh vì khói lựu đạn, vì sức đẩy vòi nước còn nằm la liệt trên lòng đại lộ ngập nước và trên hè phố ướt sũng. Trong đám người nằm la liệt trên mặt đường nhựa kia, lạ thay còn có một người chiến sĩ nằm yên, hai tay dang ngang, hai chân duỗi thẳng như chừng đang nằm trên thập tự giá. Chiếc nón sắt của anh lăn xa xuống miệng cống còn cây súng oai hùng thì nằm ở đầu tầm tay.

 

Các đơn vị quân đội đã rút đi từ lâu mà sao chỉ còn mình anh nằm lại? Những người biểu tình còn đó, lớp thì mệt nhọc lo lấy phận mình, lớp thì căm giận lực lượng võ trang đàn áp chẳng ai buồn quan tâm đến cái xác của người lính chiến lạc loài. Vùng đất đấu tranh vừa mới ồn ào náo nhiệt đó giờ đây hoang vắng như bãi tha ma. Những người lính thủy quân lục chiến Huê Kỳ đứng bên trong cổng sắt nhìn ra như những con hổ trong chuồng sắt vườn bách thú.

 

Ðêm đã xuống, khu vực sứ quán êm tĩnh và vắng lạnh vì đã vào giờ giới nghiêm. Thế nhưng, anh chiến sĩ lạc loài kia vẫn nằm yên đó. Lính canh sứ quán ra nhìn rồi trở vào gọi điện thoại cho những nơi liên hệ. Nửa giờ sau, một chiếc xe hồng thập tự quân đội ào ào chạy đến, còi hụ inh ỏi, đèn đỏ chớp lia lịa. Tiếc thay, thái độ gấp rút, vội vàng kia để làm gì khi linh hồn anh lính chiến đã rời bỏ thân xác của anh mà đi tự lúc nào! Buồn ơi là buồn cho anh chiến sĩ ở tiền phương, không chết vì đạn thù trên bãi chiến trường mà về thủ đô nằm chết trên đại lộ vì ai và vì đâu? Một nghịch cảnh giữa lòng thành phố thân thương, nơi anh được đưa về để giữ gìn trật tự và an ninh!

 

Chiếc xe hồng thập tự của quân vụ thị trấn đưa xác chết của người lính chiến, chưa được thừa nhận, tạm gửi quân y viện Cộng Hòa, chờ thủ tục. Trên ngực áo của anh có thêu họ tên "Dương Ái Quốc" nhưng trong người anh chẳng có một mảnh giấy tờ tùy thân nào. Lòng vòng mãi một lúc rồi người ta cũng tìm ra được đơn vị của anh, trong khi đơn vị liên hệ kéo về thiếu mất một người cũng chẳng cần quan tâm. Ðâu có gì quan trọng, thiếu mất một người thì chờ qua đêm coi nó có trở về không. Nếu không thì chỉ cần làm một cái công điện báo cáo một người mất tích hay đào ngũ lên đơn vị trên thế là xong. Thiếu mất một cây súng chắc còn quan trọng hơn thiếu một người lính!

 

Sau khi phẫu nghiệm thi thể, bác sĩ pháp y phán rằng đương sự chết vì bệnh tim phát chứng. Thế là người ta đem chôn Quốc một cách bình thường và đơn giản, không gì phải thắc mắc. Trung đội của Quốc đề nghị lên đại đội xin thượng cấp thuận cho anh được "chết vì công vụ", đại đội "kính chuyển với hảo ý" lên tiểu đoàn, nhưng lên đến sư đoàn thì bị bác vì không có lý do chính đáng.

 

Nếu được cho là chết dưới cờ, chết trong khi chiến đấu thì vẻ vang cho người chiến sĩ và thủ tục mai táng và hành chính sau đó cũng khác đi. Quyết định của sư đoàn, trên nguyên tắc là đúng, nhưng trước kia đã có không biết bao nhiêu trường hợp sĩ quan cấp tá cũng như cấp úy được hưởng ngoại lệ. Ông thì chết vì cảm cúm thương hàn, ông thì chết vì mỗ ruột dư, thậm chí có ông tá ra đi trong khoái cảm vì "cỡi ngựa trúng gió", mã thượng lạc mạo phong, cũng được coi là "chết tại mặt trận" để quan tài được phủ lá quốc kỳ cho khách qua đường gặp đám tang mà lòng thầm ngưỡng mộ một người lính chiến đã "hy sinh vì Tổ Quốc" và để nấm mộ ông được nằm dưới bóng tượng đài có ghi mấy chữ "Tổ Quốc Ghi Công"! Nhưng, đâu đã hết vì sau đó gia đình, vợ con ông còn được hưởng phụ cấp tử tuất hậu hĩ. Ở đâu trong xã hội thì cũng thế thôi, công chúa phải gai bằng thuyền chài thủng ruột!

 

Cỗ xe tang của binh nhất Dương Ái Quốc chỉ vỏn vẹn là một chiếc xe 4x4, không mui, không bạt che nắng đậy mưa, bùn đất dơ bẩn, chạy vùn vụt trở về hậu cứ để chôn anh ở nghĩa trang sư đoàn. Trên xe chỉ có một anh binh nhì, bạn thân của Quốc, trong bộ quân phục tác chiến ngụy trang thật chỉnh tề, ngồi cạnh quan tài để đưa Quốc về nơi an nghĩ cuối cùng. Chiếc hòm của Quốc, loại hòm rẻ tiền nhất, cứ nẩy tâng tâng trên sàn xe mỗi khi xe qua ổ gà hay chạy trên đường đá gồ ghề. Nhưng người lính lái xe đâu phải quan tâm đến sự yên thân của người chết phía sau xe mà chỉ cần phóng nhanh để sớm xong chuyến công tác.

 

Chiếc quan tài cô độc của Quốc được đặt vào lòng đất mẹ thân yêu vừa xong thì một cơn mưa nặng hột đã tràn tới như khóc thương cho người chiến sĩ xấu số. Hai nhân viên của đội chung sự hối hả lấp đất để nhanh chân chạy tránh cơn mưa. Thôi thì cũng xong một kiếp người, một cuộc đời, vì có ai tìm hiểu làm gì nỗi đắng cay của con người nằm trong chiếc áo quan kia đang đi vào lòng đất quê hương lần cuối cùng và mãi mãi.

 

Như thế, đơn vị của Quốc, quân đội và đất nước Việt Nam Cộng Hòa có thể coi như đã làm xong bổn phận cho một đứa con của quê hương vừa nằm xuống. Nhưng chưa chắc gì linh hồn của Quốc đã được yên bình dưới ba tấc đất, nếu người đời biết được tâm tư tình cảm của Quốc qua tập nhựt ký dày cộm những tâm sự mà người bạn thân của anh vừa tìm được trong bao quân trang, di sản của người chiến sĩ chẳng may.

  

Quốc là người lính thầm lặng nhất trong đơn vị. Ban đầu, bạn đồng đội cho là anh lập dị, hợm mình nên tìm mọi cách để trêu ghẹo hoặc để phá tan cái trầm buồn bí hiểm ở anh mà họ cho là một nỗi sầu tình, thương nhớ người yêu nào đó còn để lại nơi chốn hậu phương. Lần hồi, các bạn đồng đội mới biết rằng đó là bản tính của Quốc để rồi phải tôn trọng cá tính của anh. Họ không còn quấy rầy Quốc nữa mà lại thương mến anh càng ngày càng nhiều hơn.

 

Quốc không bao giờ tâm sự với ai, chỉ biết cặm cụi làm tròn bổn phận người lính chiến. Người ta không bao giờ thấy Quốc xin đi phép. Bạn bè anh có cảm tưởng rằng đơn vị là gia đình và những ngày nghỉ xả hơi sau chiến dịch là thời gian đi phép của anh. Ðồng đội kính trọng sự im lặng của Quốc và vì thương anh, bạn bè cũng như cấp chỉ huy trực tiếp đều để cho anh thoải mái với nếp sống riêng tư của anh. Với thời gian, Quốc đã trở thành mối tình của đơn vị.

 

Mến Quốc, thương Quốc nhưng không một ai hiểu được cuộc đời riêng tư của anh. Ngay ban quản trị nhân viên của đơn vị cũng chỉ biết rằng Quốc là một quân nhân mà một mai chết đi không cần phải báo cho ai cả vì Quốc không có một thân nhân nào để ghi vào hồ sơ lý lịch hết. Nay, khi Quốc đã nằm sâu dưới lớp đất trần gian rồi thì tất cả bí mật của anh mới xuất hiện ra trên những trang giấy học trò của tập nhựt ký kia. Nét chữ đẹp và nắn nót của Quốc đã ghi lại cuộc đời nhiều khổ ít vui của anh khiến cho tình thương mà chiến hữu dành cho anh lại càng tăng lên gấp bội.

 

Quốc là kết quả của một trận mây mưa tình ái giữa một người thôn nữ ngây thơ và một anh lính thú đồn bót. Vụ cướp giựt lòng trinh bạch của cô gái quê mùa, mẹ của Quốc, chưa được tòa án quân sự tuyên xử thì người cha không tên của anh đã thành người thiên cổ vì giẫm phải mìn bẫy của cộng quân trên đường tuần tiễu. Mẹ Quốc ôm lấy mối sầu tủi hổ mỗi ngày một lớn trong thân xác của mình. Ngày Quốc chào đời thì, bi đát thay, mẹ anh cũng ra đi về với lòng đất lạnh, vì sinh sản khó khăn trong tay một bà mụ vườn.

 

Thằng bé trai sớm bơ vơ đó được người đời trao cho một cô nhi viện của những dì phước trong tỉnh. Yêu thương thằng bé vì hoàn cảnh của nó, vì dáng vẻ dễ mến của nó, vì tính dễ nuôi của nó ngay từ ngày đỏ hỏn còn quấn trong tã, dì phước Mẹ Bề Trên của cô nhi viện thầm coi nó như con của mình nên rất quan tâm đến thằng bé. Thấy vậy, những dì phước và nhơn viên trong viện mô côi cũng dành cho thằng bé khá nhiều chăm sóc.

 

Cứ như thế mà Quốc trưởng thành, như trong vòng thân ái của gia đình. Quốc được cho đi học và được dạy dỗ ngoan ngoãn, hiền từ, gần lành lánh dữ, tận tình tận tâm và quảng đại bao dung, hay nói gọn là như một nữ tu trong xã hội. Càng lớn lên, càng thắc mắc về cội nguồn, dỉ vãng của mình, Quốc đã bằng mọi cách tìm hiểu, nhưng còn ai để nói cho anh biết?

 

Trưởng thành trong thời buổi binh đao, khói lửa đỏ trời, bom xăng đốt đất đun sôi dòng nước quê hương, Quốc đã dấn thân vào cuộc chiến trong bổn phận một công dân như bao người thanh niên khác. Mãi cho đến ngày Mẹ Bề Trên của cô nhi viện cảm thấy mình tuổi cao, sức yếu, sắp phải về nước Chúa, bà mới cho người gọi Quốc đi phép trở về cô nhi viện để tiết lộ cho anh quá trình hình thành của chính anh. Từ bé đến giờ, đây là lần đầu tiên anh mới thấy lòng mình xúc động mạnh trước thân xác của một đóa hoa đang héo tàn, trước cái chết gần kề của một người đã từng nuôi dưỡng và dạy dỗ anh thành nhơn. Qua hình ảnh Mẹ Bề Trên, Quốc mường tượng về một người mẹ đã đưa anh ra đời nhưng chẳng bao giờ thấy mặt.

 

Mấy tập vở trăm trang nhựt ký của anh binh nhất Dương Ái Quốc là một mẩu tâm sự với chính mình, đầy đau thương và nước mắt, của một người con trai côi cút, chỉ còn biết lấy quê hương làm người thương của mình. Nhựt ký dở dang của Quốc nói lên nhiều nỗi khắc khoải của một người trai thời chinh chiến mà cũng kể lại rất nhiều về hành trình của một con người dám dứt bỏ tất cả để rồi dành lại cho đất nước tất cả của chính mình.

 

Nỗi lòng của Quốc là một tình thương nước ngây ngô và thật thà vì "trong lòng đất quê hương này có thân xác của mẹ Quốc, của cha Quốc và của Mẹ Bề Trên cô nhi viện, người đã cho Quốc cái cơ hội tồn tại trên cõi đời này để đền đáp chút công ơn của người sinh, kẻ dưỡng". Tình thương nước của Quốc không phải là tình thương có lợi lộc thúc đẩy hay vinh hoa lôi kéo. Tình thương nước của Quốc là một tình thương đầy xót xa đau khổ qua những gì anh đã thấy tận mắt, nghe tận tai trên đường hành quân của đơn vị. Không phải như lòng yêu nước của những lãnh tụ, của những chánh khách, chỉ có địa vị và bổng lộc.

 

Một thời gian khá lâu sau cái chết nhiều thắc mắc của binh nhất Dương Ái Quốc, dư luận trong đơn vị về mẩu nhựt ký của anh làm cho một vài người hiếu kỳ phải quan tâm đến. Trong số đó có người sĩ quan tâm lý chiến của đơn vị. Ông tìm đọc để biết tại sao những trang tâm sự đó lại tác động đến tâm lý của đơn vị. Một trường hợp không thể làm ngơ.

 

Nghiên cứu xong, người sĩ quan tâm lý chiến bàn với tiểu đoàn trưởng và cứ theo hệ thống quân giai mà những trang nhựt ký Dương Ái Quốc đi lần lên đến sư đoàn. Nhưng lần này chuyện của anh không bị sư đoàn bác như trường hợp xin đặc ân cho anh ngày anh nằm xuống. Sư đoàn suy nghĩ rất nhiều, bàn tới tính lui, cân nhắc lợi hại về tác động của mẩu tâm tình lính chiến đó.

 

Thế rồi một hôm, trong một phiên học tập đặc biệt về chiến tranh chánh trị dưới sự chủ tọa của Thiếu Tướng Tư Lịnh Sư Đoàn, quân nhân các cấp đột nhiên nghe được:

 

"... Ðơn vị của mình lại về thành. Ðáng lý ra là một niềm vui cho những thằng lính chiến như mình quanh năm ngày tháng chỉ biết có núi rừng và bưng rẫy. Vậy mà mình không thấy vui trong lòng khi biết rằng đơn vị về thành để dẹp biểu tình. Những ngày hành quân, đài phát thanh có nói gì đến những xáo trộn tại hậu phương đâu? Giờ đây về thành mới trắng mắt ra. Ðầu tắt, mặt tối với bọn cộng quân trước mặt, cộng quân bên hông và cộng quân trong bóng tối, mình vẫn tưởng rằng hậu phương yên ổn. Nào ngờ đâu?!

 

"Những tiếng còi hụ của xe cảnh sát rượt biểu tình làm cho bầu không khí thủ đô càng thêm rùng rợn, hơn cả tiếng hú của hỏa tiễn địch bay vào phòng tuyến đơn vị ngoài chiến trường. Ðêm qua, trên các hệ thống truyền thanh và truyền hình, Tổng Thống kêu gọi lòng yêu nước của mọi người để cho xáo trộn thôi phiền nhiễu nhơn dân. Nhưng, biểu ngữ và truyền đơn của người biểu tình cũng kêu gọi lòng yêu nước của chánh quyền để cho dân chủ được tốt đẹp. Thì ra, bên nào cũng nhân danh lòng yêu nước theo cung cách của mình để đấu tranh với đối tượng. Vậy thì tình yêu nước chân thật nằm ở đâu? Chẳng lẽ ở chính mình, người lính chiến nhỏ bé, thấp hèn ..."

 

Giọng đọc của người sĩ quan tâm lý chiến như nghẹn ngào khi đọc đoạn nhựt ký bỏ lửng của Dương Ái Quốc. Chưa lần nào đơn vị lại có một phiên học tập chiến tranh chánh trị đơn sơ, giãn dị mà hấp dẫn và cảm động như thế. Trong nỗi cảm xúc chung đó, người sĩ quan yêu cầu hội trường hãy dành một phút mặc niệm cho người chiến sĩ âm thầm của đơn vị. Cả hội trường đồng loạt đứng lên, đầu cúi xuống trong bầu không khí linh thiêng như chừng có Quốc đâu đây. Phút mặc niệm chấm dứt, mọi gương mặt ngẩng lên trong thế tự hào. Nhiều cặp mắt ngấn lệ, trong đó có cặp mắt nghiêm khắc nhất của Thiếu Tướng Tư Lịnh Sư Đoàn. Vì thương tiếc người chiến sĩ mến yêu hay vì căm tức những ai "nhân danh lòng yêu nước", cứ dành cho quê hương chút tình yêu mến dư thừa lẽ mọn?

                                                                                                                          

(Hết Chương Bốn)

 

 


PHAN QUÂN

 
Tên thật:  Phan Văn Minh
Ngày sanh:  17.02.1931
Dân Sài Gòn
Học sinh Pétrus Ký
Khoá I Thủ Đức (1951-1952)
Sĩ quan bộ binh:  (1952-1953)
Sĩ quan Không Quân:  (1954-1975)
Tù cải tạo:  (1975-1987)
Định cư ở Pháp:  (1990-...)

Tác phẩm :

LÊN TRÊN=  |     GỬI BÀI     |     LÊN TRÊN=

Phù Sa được thực hiện bởi nhóm PSN (Phù Sa Network).
Là tiếng nói của người Việt Tự Do trong và ngoài nước nhằm phát huy khả năng Hiểu Biết và Thương Yêu để bảo vệ và thăng hoa sự sống.
PSN không loan tin thất thiệt, không kích động hận thù, và bạo lực. Không chủ trương lật đổ một chế độ, hay bất kỳ một chính phủ nào.