Đây
là cái thấy về sự tương đồng giữa Đạo học phương Đông với Khoa học
phương Tây, cụ thể là ngành Vật lý học của một giáo sư ngườ
Từ
vọng tưởng hãy đưa ta về thực tại!
Từ bóng tối hãy đưa ta về ánh sáng!
Từ cái chết hãy đưa ta về bất tử!
Áo nghĩa thư (Brihad-Aranyaka-Upanishad)
Trước khi nghiên cứu về sự song hành giữa nền vật lý hiện đại với
nền đạo học phương Đông, ta hãy đi sâu trả lời câu hỏi, làm sao có
thể so sánh được hai bên; một bên là một nền khoa học chính xác, dựa
trên ngôn ngữ phức tạp của ngành toán học hiện đại và bên kia là một
môn tu học tâm thức, chủ yếu dựa trên thiền định quán sát rồi lại
còn cho rằng tri kiến của họ không thể dùng ngôn từ để diễn tả.
Điều ta muốn so sánh là nhận thức và tri kiến về thế giới của nhà
khoa học và nhà đạo học. Nhằm so sánh cho đúng, trước hết ta phải
làm rõ tri kiến ở đây là gì. Liệu một tăng sĩ tại Đế Thiên Đế Thích
hay Đông Kinh (Kyoto) hiểu tri kiến cũng như một nhà vật lý tại
Oxford hay Berkeley? Thứ hai, ta muốn so sánh loại tri kiến nào? Một
bên, chúng ta sẽ lấy ra những con số thực nghiệm, những phương trình
hay các lý thuyết và bên kia là các kinh sách tôn giáo, những huyền
thoại xưa cũ và các luận văn triết học ra sao? Chương này nhằm giải
quyết hai vấn đề vừa nêu: tính chất của các tri kiến cần đề cập và
ngôn ngữ được sử dụng để phát biểu những tri kiến đó.
Xuyên suốt toàn bộ lịch sử, ta nhận ra rằng tâm thức con người có
hai cách nhận định, hai cách ý thức; hai cách đó có khi được gọi là
suy luận và trực giác, suy luận thường được gắn liền với khoa học và
trực giác với tôn giáo. Tại phương Tây thì lối tư duy trực giác, tôn
giáo hay bị đánh giá thấp so với tư duy khoa học, có tính lý luận;
trong lúc phương Đông quan niệm hầu như ngược lại. Những phát biểu
sau đây về tri kiến của hai nhà tư tưởng vĩ đại Đông Tây nói lên đặc
trưng của hai thế đứng. Tại Hy Lạp, Sokrates nói câu nổi tiếng:
“Tôi biết rằng tôi không biết gì cả” và tại Trung Quốc,
Lão tử nói: “Biết mà cho là không biết, thì cao”. Tại
phương
Cần nơm bắt cá, nhưng có
cá rồi hãy quên nơm;
Cần bẫy bắt thỏ, được thỏ rồi hãy quên bẫy;
Cần lời truyền ý, được ý hãy quên lời.
Tại phương Tây, Alfred
Korzybski cũng diễn tả ý đó rất công hiệu bằng câu “Địa đồ không
phải là cảnh thật”.
Các nhà đạo học phương Đông chú tâm tìm kiếm kinh nghiệm trực tiếp
với thực tại, thực tại này không những chỉ xuyên suốt tư duy suy
luận mà cả mọi cảm thọ giác quan. Áo nghĩa thư viết:
Kẻ biết thờ phụng cái vô
thanh, vô cảm, vô sắc, không biến hại, không mùi, không vị, miên
viễn, vô thủy, vô chung, cao hơn cả cái đại ngã, không lay chuyển
được, kẻ đó đã được giải thoát, không còn là miếng mồi của thần
chết.
Loại tri kiến xuất phát
từ sự chứng thực đó được Phật giáo gọi là tri kiến “tuyệt đối”, vì
nó không dựa trên sự phân biệt, sự trừu tượng hóa và phân loại của
đầu có suy luận, vốn chỉ tương đối và có tính gần đúng. Cái đó được
Phật giáo gọi là kinh nghiệm trực tiếp về một thể là như thế (Như
lai), một thể nằm ngoài sự phân tích, không thể chia chẻ, không thể
định nghĩa. Sự chứng thực của thể này không phải chỉ là hạt nhân
trung tâm của đạo giáo phương Đông, nó cũng chính là kinh nghiệm
trung tâm của mọi kinh nghiệm.
Các nhà đạo học phương Đông luôn luôn chỉ rằng, thực tại tối hậu
không bao giờ là một đối tượng của suy luận logic hay là một tri
kiến có thể chỉ bày. Thực tại đó không bao giờ dùng ngôn từ mô tả
được vì nó nằm ngoài phạm vi của giác quan và tư duy, từ phạm vi đó
mà chữ nghĩa và khái niệm hình thành. Về điều đó, áo nghĩa thư viết:
Mắt không chen nổi tới đó,
Tiếng nói cũng không, tâm thức cũng không.
Ta không biết làm sao, chẳng hiểu làm sao,
dạy được điều đó.
Lão Tử, người gọi thực tại tối hậu đó là Đạo, cũng nói ý đó trong
dòng đầu tiên của Đạo Đức Kinh: Đạo khả đạo, phi thường đạo
(Đạo mà ta có thể gọi được, không phải là Đạo). Thực tế mà ai cũng
có thể đọc ra được từ mỗi dòng báo là nhân loại suốt trong hai ngàn
năm qua không hề minh triết thêm chút nào cả, mặc dù tri kiến suy
luận tăng lên đáng kinh ngạc, điều đó đủ rõ rằng không thể trao
truyền tri kiến tuyệt đối bằng lời được. Như Trang Tử nói: “Nếu
nó có thể bảo cho người khác hay được thì ai cũng bảo cho anh em
rồi”. Tri kiến tuyệt đối như thế là một sự chứng thực hoàn toàn
phi suy luận, một kinh nghiệm diễn ra trong một dạng tâm thức bất
thường mà ta có thể gọi là một tình trạng “thiền quái” hay “huyền
bí”. Sự hiện hữu một tình trạng đó đã được nhiều nhà đạo giáo đông
tây thừa nhận, thậm chí cũng được các công trình nghiên cứu tâm lý
thông thường xác nhận. Hãy nghe lời của William James:
Tâm thức thông thường, tỉnh táo của chúng ta, tâm thức suy luận như
chúng ta gọi tên, chỉ là một dạng đặc biệt của tâm thức, trong lúc
xung quanh đó, chỉ cách một tấm màn mỏng, có nhiều dạng của tâm thức
hoàn toàn khác đang sẵn sàng.
Mặc dù nhà vật lý hoạt động với tri kiến suy luận, nhà đạo học với
tri kiến trực giác, thế nhưng hai loại tri kiến này lại xuất hiện
trên cả hai lĩnh vực. Điều này cũng rõ nếu ta xét hai loại tri kiến
đó được đạt tới và được diễn tả như thế nào.
Trong ngành vật lý thì tri kiến được thu lượm từ nghiên cứu khoa học
gồm ba giai đoạn. Giai đoạn một gồm tích luỹ kết quả của kinh
nghiệm, thông qua các hiện tượng, các hiện tượng đó phải được giải
thích thích đáng. Trong giai đoạn hai, những khẳng định do quan niệm
mang lại đó được mô tả bằng biểu tượng toán học và một khung toán
học sẽ được đề ra nhằm diễn tả mối liên hệ của những biểu tượng toán
học nói trên một cách chính xác, hợp với lý luận. Khung đó hay được
gọi là mô hình toán học hay nói một cách tổng quát hơn, là một lý
thuyết. Sau đó lý thuyết đó được áp dụng để tiên đoán kết quả của
những thí nghiệm khác nhằm kiểm tra nó. Trong giai đoạn này, thường
nhà vật lý rất vui sướng khi họ tìm ra một mô hình toán học và biết
cách áp dụng để tiên đoán kết quả các thí nghiệm. Thế nhưng đến một
lúc nào đó thì nhà vật lý phải trình bày kết quả của mình cho một
người ngoài ngành và vì thế anh ta phải nói bằng một ngôn ngữ thông
thường. Điều đó có nghĩa là anh ta phải trình bày mô hình của mình
bằng ngôn ngữ thông thường, dùng ngôn ngữ đó mà giải thích mô hình
toán học. Đó là giai đoạn ba của việc nghiên cứu và việc phát biểu
một mô hình bằng câu chữ có nói lên trình độ hiểu biết của anh ta
tới đâu.
Trong thực tế, ba giai đoạn đó không phải luôn luôn tách bạch hẳn
nhau và chúng cũng không luôn luôn xuất hiện như trình tự nêu trên.
Lấy thí dụ một nhà vật lý dựa trên một quan điểm triết học để tìm
tới một mô hình và rồi các thí nghiệm cho thấy kết quả ngược lại.
Anh ta sẽ -điều này rất hay xảy ra trong thực tế- tìm cách uốn nắn
mô hình đó để phù hợp với kết quả của thí nghiệm. Thế nhưng nếu kinh
nghiệm vẫn tiếp tục phản bác mô hình của anh ta thì thế nào anh ta
cũng bỏ rơi mô hình của mình.
Phương pháp dựa trên kinh nghiệm mà thiết lập lý thuyết là phương
pháp khoa học ai cũng biết và chúng ta sẽ thấy nó cũng được áp dụng
trong đạo học phương Đông. Chỉ có nền triết học Hy Lạp lại hoàn toàn
khác trong điểm này. Mặc dù triết gia Hy Lạp có những ý niệm thiên
tài về thế giới tự nhiên, rất gần với các mô hình khoa học hiện đại;
thế nhưng có một sự khác nhau rất lớn giữa hai bên về giá trị của
thực nghiệm, giá trị đó xem ra rất xa lạ với người Hy Lạp. Họ thiết
lập mô hình dựa trên một số định đề hay nguyên lý nhất định, chứ
không dựa trên quan sát tự nhiên. Mặt khác lối tư duy đó lại đóng
vai trò quan trọng trong giai đoạn hai của nghiên cứu khoa học, đó
là giai đoạn thuần túy phát biểu một mô hình toán học và đó cũng là
một phần quan trọng của khoa học tự nhiên.
Nghiên cứu khoa học phần lớn dựa trên tri thức và phương pháp có
tính suy luận nhưng không thể chỉ có thế. Sự nghiên cứu thuần tuý lý
luận thực ra sẽ vô bổ nếu không có trực giác tham dự vào. Nó giúp
nhà khoa học có một tầm nhìn mới và làm họ thêm sáng tạo. Những loại
tri kiến trực giác này thường xuất hiện một cách đột ngột và đặc
trưng của nó là xuất hiện không phải nơi bàn viết, bên cạnh một
phương trình đẳng thức mà trong phòng tắm, lúc đi dạo, trên bãi biển
v.v... dường như trong giai đoạn thư giãn sau hoạt động của đầu óc
suy luận thì óc trực giác chiếm ưu thế hơn lý trí và dẫn đến một sự
tỏ ngộ bất ngờ; đó cũng là niềm vui sướng của nghiên cứu khoa học
(điều này trùng hợp với trải nghiệm của thiền giả -CM-).
Tuy thế, tri kiến trực giác chỉ hữu ích cho ngành vật lý khi nó được
phát biểu trong một mô hình toán học hữu lý và được hỗ trợ thêm bằng
lý giải trong ngôn ngữ thông thường. Trong khuôn khổ này thì sự trừu
tượng hoá là một đặc tính quan trọng. Như đã nói, sự trừu tượng cần
một hệ thống những khái niệm và dấu hiệu, chúng diễn tả thực tại
bằng một bản đồ. Thế nhưng bản đồ chỉ diễn tả một phần của thực tại,
điều mà ta không biết là phần nào của thực tại vì ngay từ bé chúng
ta đã từng bước xây dựng bản đồ đó mà không phân tích phê phán gì
cả. Vì thế chữ nghĩa của ngôn ngữ không hề được định nghĩa rõ rệt.
Chúng có nhiều nghĩa mà phần lớn khi chúng ta nghe đến đều hiểu
chúng một cách mơ hồ, và ý nghĩa của chúng vẫn chìm sâu trong tiềm
thức.
Tính mơ hồ và đa nghĩa của ngôn ngữ thì quan trọng đối với thi sĩ,
đó là những người làm việc với những tầng sâu của tâm kiến thức và
mối tương giao của ngôn ngữ. Nhưng khoa học thì nhắm đến những định
nghĩa chính xác và mối liên hệ rõ ràng và vì thế khoa học phải trừu
tượng hoá ngôn ngữ thêm nữa bằng cách giới hạn ý nghĩa của từ và
khuôn khổ của chúng, làm sao cho phù hợp với qui luật của lý luận
logic. Sự trừu tượng hóa cuối cùng được xảy ra trong toán học, trong
đó từ ngữ được thay bằng dấu hiệu và mối liên hệ của những dấu hiệu
đó được định nghĩa một cách nghiêm ngặt. Với cách đó, thông tin khoa
học được ghi lại chỉ bằng một đẳng thức, một dòng dấu hiệu; nếu phải
viết ra bằng ngôn ngữ thông thường ta cần nhiều trang giấy.
Quan điểm cho rằng, toán học không gì khác hơn là một ngôn ngữ hết
sức trừu tượng và sắc gọn, thật ra cũng không phải được chấp nhận
hoàn toàn. Thực tế có nhiều nhà toán học nghĩ rằng toán học không
phải chỉ là một ngôn ngữ mô tả thế giới tự nhiên, mà bản thân thiên
nhiên cũng chứa đựng toán học. Cha đẻ của lối nhìn này là
Pythagoras-người đã từng nói câu nổi tiếng: “Vạn sự là con số” - và
là người phát triển một nền toán học huyền bí rất đặc biệt. Triết lý
của Pythagoras đã đưa lý luận logic vào lĩnh vực tôn giáo, đó là một
sự phát triển mà theo Bertrand Russel đã đóng một vai trò then chốt
trong triết lý tôn giáo phương Tây:
Sự phối hợp giữa toán học và thần học, bắt đầu với Pythagoras, là
đặc trưng của nền triết lý tôn giáo của Hy Lạp, của thời Trung cổ và
trong thời đại mới kéo dài đến Kant... Với Plato, St. Augustine,
Thomas Aquinas, Descartes, Spinoza và Leibnitz có một mối giao hoà
mật thiết giữa tôn giáo và lý trí, giữa đòi hỏi đạo đức với sự
ngưỡng mộ của lý trí về cái miên viễn, mối giao hoà đó xuất phát từ
Pythagoras và làm thần học phương Tây đầy tính suy luận khác với nền
đạo học trực tiếp từ châu Á .
Dĩ nhiên các nền đạo học trực tiếp của châu Á không thể chấp nhận
quan điểm toán học Pythagoras. Theo quan điểm phương Đông, thì toán
học đầy chi tiết và định nghĩa phức tạp chỉ có thể là một phần của
bản đồ đầy khái niệm về thực tại chứ không thể là bản thân thực tại.
Thực tại, như các nhà đạo học thực chứng, thì hoàn toàn không định
nghĩa được, không chia chẻ được.
Phương pháp trừu tượng hóa của khoa học rất hiệu nghiệm, nhưng ta
phải trả cho nó một cái giá. Khi chúng ta ngày càng định nghĩa tinh
vi, càng trơn tru chặt chẽ hệ thống khái niệm của ta, thì nó càng xa
rời thực tại. Lấy ẩn dụ của Korzybski về bản đồ và thực tại thì ta
có thể nói, ngôn ngữ thông thường là một loại bản đồ, nhưng nhờ sự
thiếu chính xác của ngôn ngữ mà nó lại linh động nhất định để có thể
diễn tả sơ lược một mô đất cong. Nếu ngôn ngữ đó trở nên cứng nhắc
thì sự linh động cũng mất theo và với ngôn ngữ toán học thì ta đã
tới một điểm mà mối liên hệ với thực tại chỉ mỏng như sợi chỉ mành,
để giữa dấu hiệu toán học và kinh nghiệm của giác quan không còn gì
chắc chắn cả. Do đó khi ta cần phải dùng ngôn từ để trình bày các mô
hình toán học hay các lý thuyết, thì ta phải dùng các khái niệm có
thể hiểu được bằng trực giác, nhưng phải chịu chấp nhận là chúng có
thể đa nghĩa và thiếu chính xác.
Cần phân biệt rõ giữa mô hình toán học và sự giải thích chúng qua
ngôn từ. Mô hình thì tự thân nó cứng nhắc và nhất quán, nhưng các
dấu hiệu của chúng không liên hệ trực tiếp với kinh nghiệm của chúng
ta. Còn khi dùng ngôn ngữ để lý giải mô hình ta cần khái niệm, khái
niệm đó có thể hiểu được bằng trực giác, nhưng khi đó chúng hết
chính xác trở nên nhiều nghĩa. Với cái nhìn đó, chúng không khác với
các mô hình triết học về thực tại, nên cả hai có thể so sánh dễ dàng
với nhau.
Nếu trong khoa học đã có một yếu tố trực giác thì ngược lại trong
nền đạo học phương Đông cũng có một yếu tố thuộc suy luận. Tuy nhiên
mức độ của suy luận thay đổi từ trường phái này qua trường phái
khác. Thí dụ như trường phái Vệ-đà của ấn Độ giáo hay Trung quán
tông của Phật giáo rất đề cao suy luận, trong lúc Lão giáo rất nghi
ngờ khả năng suy luận. Thiền tông, xuất phát từ Phật giáo, nhưng
chịu nhiều ảnh hưởng của Lão giáo, cũng tự nhận là “không văn tự,
không lý giải, không giáo pháp, không tri thức”. Tông này hầu như
tập trung trên kinh nghiệm giác ngộ và nếu có lý giải thì lý giải sơ
lược về sự giác ngộ mà thôi. Một câu nói nổi tiếng của thiền là:
“Chỉ mở miệng nói về một sự vật là đã sai rồi”.
Các tông phái khác phương Đông, dù ít thái quá hơn, chủ yếu cũng chỉ
quan tâm đến kinh nghiệm giác ngộ trực tiếp. Các nhà đạo giáo cũng
có vị đi vào những lý luận tinh tế, nhưng ngay các vị đó cũng không
bao giờ thấy lý luận là nguồn gốc tri kiến, mà chỉ dùng ngôn từ để
phân tích hay lý giải kinh nghiệm thực chứng của mình. Tất cả mọi
tri kiến đều xây dựng vững chắc trên kinh nghiệm và chúng cho nền
đạo học phương Đông một tính cách thực nghiệm mà kẻ tầm đạo luôn
luôn nhắc nhở. Thí dụ D.T.Suzuki nói như sau về Phật giáo:
Kinh nghiệm cá nhân là cơ sở của triết lý Phật giáo. Trong nghĩa này
thì Phật giáo theo quan điểm thực chứng tuyệt đối, dù cho về sau có
những phép biện chứng nào để triển khai đi nữa để tìm hiểu ý nghĩa
của kinh nghiêm giác ngộ.
Joseph Needham luôn luôn nhắc lại quan điểm thực chứng của Lão giáo
trong tác phẩm Science and civilisation in China và thấy rằng quan
điểm là gốc của khoa học kỹ thật và Trung quốc. Theo Needham thì các
nhà hiền triết Lão giáo “rút về hoang dã, rừng núi để thiền quán
về trật tự của trời đất và để quan sát vô số dạng xuất hiện của
thiên nhiên”. Các câu kệ sau đây của thiền cũng nói điều đó:
Ai muốn hiểu Phật tính, cứ sống thuận thời, thuận lễ nhân quả.
Cơ sở vững chắc của tri kiến dựa trên kinh nghiệm của phương Đông có
một sự tương đồng với khoa học thực nghiệm. Sự tương đồng này còn
được gia tăng nên bởi kinh nghiệm tuệ giác. Kinh nghiệm này được
truyền thống phương Đông mô tả là tri kiến trực tiếp, nó nằm ngoài
phạm vi của lý luận và hầu như do Nhìn thấy mà ra chứ không do Tư
duy, thông qua thiền định, thông qua quan sát.
Trong Lão giáo thì khái niệm kiến (thấy) rất quan trọng, quan sát để
thấy và gốc của Đạo. Thiền tông Trung quốc cũng gọi giác ngộ là kiến
đạo và trong mọi tông phái Phật giáo đều cho rằng thấy là gốc của
biết. Trong Bát chính đạo, bài học của học dẫn đến sự thực chứng,
thì chính kiến là bước đầu tiên, sau đó mới đến chính tư duy. D.T
Suzuki viết về điều đó như sau:
“Thấy” đóng một vai trò đặc biệt quan trọng trong nhận thức luận
Phật giáo, vì nó là cơ sở của Biết. Không thể có Biết nếu không có
Thấy, tất cả mọi cái Biết đều xuất phát từ cái Thấy. Thấy và Biết
(Tri Kiến) như thế nằm chung trong giáo pháp của Phật. Triết lý của
Phật giáo cuối cùng cũng dạy ta thấy thực tại, đúng như nó là. Thấy
chính là chứng ngộ.
Câu này làm ta nhớ đến nhà đạo học Yaqui Don Juan: “Ham muốn của
ta là Thấy... vì chỉ nhờ thấy, Con Người Minh Triết mới biết được”.
Vì ngôn từ chỉ là một bản đồ trừu tượng, trình bày gần đúng thực tại
nên mọi diễn bày về một thí nghiệm khoa học hay một thực chứng tâm
linh phải thiếu chính xác, không đầy đủ. Nhà vật lý hiện đại và nhà
đạo học phương Đông đều biết rất rõ điều đó...
Các loại nghệ thuật phương Đông cũng là những dạng khác nhau của
thiền quán. Chúng không nhất thiết phải là phương tiện bày tỏ ý niệm
của người nghệ sĩ mà con đường thực chứng bằng cách phát triển mặt
trực giác của ý thức. Thí dụ âm nhạc Ấn Độ được học không bằng cách
đọc nốt mà bằng cách lắng nghe vị thầy tấu nhạc và tự phát triển một
cảm thọ âm nhạc, cũng như phép tập thái cực không phải nghe sao tập
vậy mà phải luôn luôn cùng thầy bước lại từ đầu. Trong trà đạo Nhật
Bản ta thấy toàn là những hành động chậm rãi, đúng qui phép. Phép
đánh quyền Trung Quốc đòi hỏi bàn tay vận động tự nhiên, không gò
bó. Tất cả những phương thức đó được phương Đông áp dụng, nhằm phát
triển mặt trực giác của ý thức.
Đối với phần lớn con người, nhất là giới trí thức, dạng ý thức này
là một phần kinh nghiệm hoàn toàn mới. Thật ra thì nhà khoa học,
xuất phát từ công việc nghiên cứu cũng đã quen với tri thức trực
giác đột ngột, vì mỗi sự phát minh mới mẻ đều xảy ra bất ngờ, trong
một tuệ giác không mô tả được. Thế nhưng chúng đều xảy ra hết sức
ngắn ngủi trong một đầu óc đầy ắp thông tin, khái niệm và mô hình.
Còn trong thiền quán ngược lại, đầu óc vắng bóng tư duy và khái niệm
và sẵn sàng hoạt động trực giác trong thời gian dài hơn. Lão tử nói
như sau về sự đối cực giữa nghiên cứu suy luận và thiền quán:
Theo học, ngày càng thêm; theo đạo, ngày càng bớt.
Khi óc suy luận ngưng biệt thì tâm trực giác sản sinh ra một dạng ý
thức đặc biệt. Thế giới chung quanh được chứng thực một cách trực
tiếp, không bị sàng lọc bởi khái niệm. Trang Tử nói: “Tâm thức yên
tĩnh của thánh nhân như tấm gương phản chiếu trời đất - chiếu rọi
muôn vật. Ý niệm nhất thể với thế giới chung quanh là đặc trưng của
tình trạng thiền quán này. Đó là một dạng tâm thức, trong đó mọi sự
chia cắt đã chấm dứt, biến mất trong một dạng nhất thể vô phân biệt.
Trong thiền sâu lắng thì tâm thức hoàn toàn tỉnh giác. Cùng với cảm
nhận phi giác quan về thực tại, thiền giả cũng nhận biết tất cả
tiếng động, hình ảnh hay các ấn tượng khác từ bên ngoài, nhưng không
giữ chúng lại để phân tích hay suy đoán. Các hình ảnh đó không làm
mất sự chú tâm của thiền giả. Dạng đó của tâm thức cũng giống như
tâm thức của một kiếm sĩ, người cảnh giác cao độ chờ cuộc tấn công
của địch, nghe biết hết tất cả mọi việc xảy ra chung quanh nhưng
không lơi là một phút giây. Thiền sư Yasutani Roshi sử dụng hình ảnh
này để mô tả phép thiền shikan-taza:
Shikan-taza là một trạng thái tâm thức chú tâm, trong đó người ta
không căng thẳng vội vã, tất nhiên cũng không bao giờ đờ đẫn mệt
mỏi. Đó là dạng tâm thức của một người đối diện với cái chết. Bạn
hãy tưởng tượng mình phải đấu kiếm như kiểu đấu tại Nhật ngày xưa.
Đối diện với địch thủ, bạn tỉnh giác từng khoảnh khắc, quyết tâm và
sẵn sàng. Chỉ cần một chút mất cảnh giác, bạn sẽ bị đâm gục ngay.
Một đám đông người bao chung quanh để xem trận đấu. Bạn không mù nên
bạn thấy đám đông qua khóe mắt mà bạn không điếc nên bạn nghe họ.
Nhưng cảnh giác của bạn không phút nào bị những cái nghe nhìn đó chi
phối.
Vì sự tương tự giữa trạng thái thiền quán và tâm thức của một kiếm
sĩ nên hình ảnh người kiếm sĩ đóng một vai trò quan trọng trong đời
sống tri thức và văn hóa phương Đông. Trong kinh sách quan trọng
nhất của ấn Độ, tập Chí Tôn ca Bhagavad Gita, vị trí câu chuyện là
bãi chiến trường, và nghệ thuật chiến tranh cũng tạo nên một phần
quan trọng trong văn hóa Trung Quốc và Nhật Bản. Tại Nhật, Thiền
tông đã ảnh hưởng lên truyền thống võ sĩ đạo Samurai, sinh ra nghệ
thật đấu kiếm, trong đó tâm thức kiếm sĩ đạt tới mức hoàn hảo. Nghệ
thuật Thái Cực quyền của đạo sỹ cũng được xem là võ thuật cao nhất,
nó phối hợp những cử động chậm rãi điều hòa của phép Du-già với một
tâm thức tỉnh giác cao độ của một chiến sĩ Đạo học phương Đông dựa
trên tri kiến trực tiếp về thể tính thực tại và nền vật lý dựa trên
quan sát của khoa học thực nghiệm về hiện tượng của thế giới tự
nhiên. Trong cả hai nơi thì những quan sát đó được lý giải, sau đó
được diễn bày bằng ngôn từ. Vì ngôn từ chỉ là một bản đồ trừu tượng,
trình bày gần đúng thực tại nên mọi diễn bày về một thí nghiệm khoa
học hay một thực chứng tâm linh phải thiếu chính xác, không đầy đủ.
Nhà vật lý hiện đại và nhà đạo học phương Đông đều biết rất rõ điều
đó.
Trong vật lý, người ta gọi sự diễn bày một hiện tượng là lập mô hình
hay lý thuyết và biết chúng chỉ có giá trị gần đúng là tính chất cơ
bản của nền nghiên cứu khoa học hiện đại ngày nay. Về điều đó, tiền
đề của Einstein như sau: “Nếu qui luật của toán học dựa trên
thực tại, thì chúng chưa chắc đúng; và nếu chúng đúng thì chúng
không dựa trên thực tại”. Nhà vật lý biết rằng, phương pháp
phân tích và suy luận của họ không bao giờ cùng một lúc có thể giải
thích được toàn bộ lĩnh vực của thế giới hiện tượng và vì thế họ
phân loại hiện tượng vào một số nhóm nhất định và tìm cách lập nên
mô hình để mô tả từng nhóm. Qua đó họ bỏ ra ngoài một số hiện tượng
khác và vì thế mô hình không thể mô tả đầy đủ tình hình thực sự.
Những hiện tượng bị loại ra ngoài có thể chúng có ảnh hưởng quá nhỏ
để dù có lưu tâm đến chúng thì lý thuyết cũng không thay đổi bao
nhiêu, hoặc cũng có thể chúng bị bỏ ra ngoài vì khi lập lý thuyết
người ta chưa hề biết đến chúng.
Nhằm làm rõ điều này ta có thể xét mô hình cơ học cổ điển của
Newton. Tác động của sức cản của gió hay sự ma sát thường không được
để ý trong mô hình này vì chúng quá nhỏ. Nhưng ngoài hai yếu tố đó
ra thì suốt một thời gian dài người ta xem mô hình cơ học của Newton
là lý thuyết chung quyết để mô tả các hiện tượng tự nhiên, cho đến
ngày khám phá ra hiện tượng điện tử, trong đó lý thuyết Newton không
có chỗ đứng. Sự khám phá ra những hiện tượng này chỉ rõ mô hình này
không đầy đủ, nó chỉ ứng dụng được cho một nhóm hiện tượng thôi, chủ
yếu là cho sự vận động của chất rắn.
Khi nói nghiên cứu một nhóm hiện tượng, ta có thể nói nghiên cứu
tính chất cơ lý của chúng trong một lĩnh vực hạn chế, điều này lại
cho thêm một lý do tại sao một lý thuyết chỉ có tính gần đúng. Nói
gần đúng cần phải nói một cách tế nhị, vì rằng ta không bao giờ biết
giới hạn thật của một lý thuyết nằm nơi nào. Chỉ có thực nghiệm mới
chỉ ra được thôi. Thế nên mô hình cơ học cổ điển tiếp tục bị xói mòn
khi nền vật lý của thế kỷ 20 chỉ rõ giới hạn đích thực của nó. Ngày
hôm nay, người ta biết rõ mô hình Newton chỉ có giá trị cho loại vật
thể do nhiều nguyên tử hợp lại và di chuyển với vận tốc nhỏ so với
vận tốc ánh sáng. Nếu điều kiện đầu không thể ứng thì cơ học cổ điển
phải được thay bằng nền cơ học lượng tử; nếu điều kiện thứ hai không
thỏa ứng, người ta phải áp dụng thuyết tương đối. Điều đó không có
nghĩa cơ học Newton là sai hay cơ học lượng tử, thuyết tương đối là
đúng. Tất cả mô hình này đều là gần đúng, chúng được áp dụng cho một
phạm vi nhất định của thế giới hiện tượng. Ra khỏi phạm vi đó, chúng
không còn mô tả đúng đắn về thế giới tự nhiên nữa và ngày nay người
ta tiếp tục tìm mô hình mới để thay thế mô hình mới để thay thế mô
hình cũ; hay nói đúng hơn, để tăng lên tính gần đúng của chúng.
Việc qui định giới hạn của một mô hình thường là một trong những
nhiệm vụ khó nhất và quan trọng nhất khi thành lập nó. Theo Geoffrey
chew mà lý thuyết Bootstrap của ông sẽ được trình sau thì quan trọng
nhất là phải luôn luôn tự hỏi sau khi một mô hình hay lý thuyết đã
được thừa nhận là: Tại sao nó ứng dụng được? Giới hạn nó ở đâu? Nó
gần đúng trong dạng nào? Chew xem những câu hỏi này là giai đoạn đầu
cho các nghiên cứu tiếp theo. (Tr. 54)
Thí dụ trong ấn Độ giáo thì điệu múa vũ trụ của thần Shiva cũng nói
lên hình dung về vật chất giống như nhà vật lý nói về một số mặt của
lý thuyết trường trong cơ học lượng tử...
Các nhà đạo học phương Đông cũng biết là mọi mô tả về thực tại là
không chính xác và thiếu đầy đủ. Sự chứng thực tại nằm ngoài suy
luận và ngôn từ và mỗi sự giác ngộ đều dựa vào chứng thực đó nên tất
cả những gì nói viết về nó đều chỉ đúng một phần. Nếu ở khoa học
thực nghiệm thì tính gần đúng có thể diễn đạt bằng số lượng, để cứ
mỗi lần tăng tính gần đúng lên thì mỗi lần có tiến bộ. Còn phương
Đông giải quyết ra sao với vấn đề của sự truyền đạt ngôn từ?
Trước hết, các nhà đạo học quan tâm chủ yếu đến kinh nghiệm chứng
thực mà ít quan tâm đến việc phải mô tả chúng ra sao. Do đó họ ít
chú tâm đến việc phân tích sự mô tả và khái niệm gần đúng nhiều hay
ít không hề được đặt ra ở phương Đông. Mặt khác, khi các vị đạo học
muốn truyền đạt kinh nghiệm của mình, họ cũng gặp phải giới hạn của
ngôn ngữ. Nhằm giải quyết vấn đề này, nhiều phương tiện được đề ra ở
phương Đông.
Đạo học Ấn Độ, nhất là Ấn Độ giáo, khoác cho những ý niệm của họ một
cái áo huyền thoại và sử dụng dấu hiệu, thi ca, ẩn dụ và tính tương
quan. Ngôn ngữ huyền thoại ít bị logic hóa và óc suy luận gò bó. Nó
đầy ma lực và nghịch lý, đầy hình ảnh khơi gợi và không bao giờ
chính xác và nhờ đó nó trình bày thế giác ngộ của đạo gia dễ hơn
ngôn ngữ của thông tin cụ thể. Theo Ananda coomaraswamy thì “huyền
thoại là hiện thân gần nhất với thực tại mà có thể dùng ngôn từ tạo
dựng nên được”.
Sức tưởng tượng phong phú Ấn Độ sản sinh ra một số nam thần nữ thần,
mà hiện thân và hành động của họ là nội dung mang tính hoang đường,
được ghi lại qua bao thế hệ với qui mô khổng lồ. Người theo Ấn Độ
giáo có trình độ biết rằng, tất cả các vị thần đó đều là sản phẩm
của tâm, hình ảnh huyền thoại là những bộ mặt của thực tại. Mặt khác
họ cũng biết rằng chúng được tạo ra không phải cho vui chuyện mà
chúng là phương tiện quan trọng để truyền bá giáo pháp của một nền
triết lý bắt rễ từ sự thực chứng tâm linh.
Các nhà đạo học Trung Quốc và Nhật có một giải pháp khác để thoát
khỏi chướng ngại ngôn ngữ. Thay vì thông qua hình tượng và huyền
thoại để làm rõ nghịch lý của tính thực tại, họ chuộng sử dụng ngôn
ngữ thông thường để nhấn mạnh thể tính đó. Lão giáo hay sử dụng
nghịch lý để chỉ bày cho thấy những mâu thuẫn do ngôn từ sinh ra và
làm rõ giới hạn của cách diễn đạt đó. Họ đã trao truyền cách này cho
các nhà Phật học Trung Quốc và Nhật, rồi các vị này tiếp tục phát
triển thêm. Cách này đã đạt đỉnh cao trong Thiền tông với những
“công án”, những câu đố vô nghĩa được các vị thiền sư dùng để truyền
đạt yếu chỉ của giáo pháp. Những công án này cho thấy một sự tương
đồng quan trọng với nền vật lý hiện đại (xem chương 3).
Tại Nhật có cách diễn bày thế giới quan triết lý bằng thi ca hết sức
súc tích, thường được các vị thiền sư sử dụng để nói đến tính là như
thế của thực tại. Khi một vị thiền tăng hỏi thiền sư Phong Huyệt
Diên Chiều: “Nói cũng không được, im lặng cũng không xong, làm
sao tránh sai sót?”, sư đáp:
Ta nhớ Giang Tô tháng ba
Gà kêu
Mùi thơm hoa lá.
Loại thi ca tâm linh này đạt đỉnh cao của nó với “Haicu”, loại thơ
cổ điển Nhật với 17 chữ, mang nặng âm hưởng Thiền. Bài thơ sau đây
của một nhà thơ “Haicu” chỉ tri kiến tự tính của đời sống, dù là bản
dịch vẫn còn nói lên được điều cần nói:
Lá rơi,
Chiếc này nằm trên chiếc kia.
Mưa tạt mưa.
Khi các nhà đạo học phương đông trình bày tri kiến của mình - bằng
huyền thoại, biểu tượng, hình ảnh thi ca hay nói cách nghịch lý -
các vị đó biết rõ giới hạn của ngôn ngữ và lối tư duy tuyến tính.
Ngày nay nền vật lý hiện đại khi nhìn về các mô hình và lý thuyết
của mình, cũng đều có cùng một thái độ như thế. Chúng cũng chỉ có
thể gần đúng và không thể chính xác. Chúng chính là một loại tương
tự như huyền thoại, biểu tượng và hình ảnh thi ca của phương Đông và
trên bình diện này tôi muốn rút ra một sự tương đồng, sự song hành
giữa hai bên. Thí dụ trong ấn Độ giáo thì điệu múa vũ trụ của thần
Shiva cũng nói lên hình dung về vật chất giống như nhà vật lý nói về
một số mặt của lý thuyết trường trong cơ học lượng tử. Cả vị thần
nhảy múa lẫn lý thuyết cơ lý đều là sản phẩm của tâm thức: chúng đều
là những mô hình để mô tả những tri kiến trực giác về thực tại của
tác những mô hình đó.
Rút từ sách:
"The Tao of Physics" (Đạo của vật lý) của tác giả Fritjof Capra
- Nguyễn Tường Bách dịch và đã đăng trên
TVHS - CM
chữa lỗi đánh máy và thêm vài ghi chú trong (). |